Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015



SAMSUNG: TỪ HAI BÀN TAY TRẮNG ĐẾN NIỀM KIÊU HÃNH CỦA DÂN TỘC


Bài viết này kể lại một câu chuyện nhỏ trong rất nhiều câu chuyện về thành công. Trung tâm bài viết là những con người, đầy quyết tâm và khát vọng, đầy bản lĩnh và tài năng, để từ hai bàn tay trắng dựng nên những công ty khổng lồ, đem lại niềm kiêu hãnh cho cả dân tộc. Đấy mới thực là "đại gia", một cái từ chúng ta đang rất hay dùng.












Chúng ta đang háo hức chờ mua iPad 5, một thành công mới của Apple. Năm ngoái chúng ta vừa mới chia tay Steve Jobs, người đã tạo ra Apple, một huyền thoại và một thần tượng xứng đáng của thế kỷ 20 - 21. Bài viết này dành cho Samsung, đối thủ và bạn đồng hành của Apple, bạn đồng hành đáng sợ và đối thủ xứng đáng. Người ta bảo, Samsung là một vương quốc đối cực của Aplle.



Trong chúng ta, cũng chẳng ai còn lạ gì Samsung. Nhưng trước khi đi vào câu chuyện, hãy lắng nghe sự thuyết phục của những con số.



Những con số nói gì?


Đối với Mỹ, cũng như châu Âu, Samsung là cuộc tấn công khủng khiếp từ vùng Viễn Đông. Thứ nhất, tổng doanh số tăng vùn vụt, và sẽ còn tăng với tốc độ còn lớn hơn thế. Theo dự báo của J.P. Morgan, doanh số năm 2020 của Samsung sẽ đạt tới giá trị 400 tỷ USD. Các con số cụ thể về doanh số và lãi ròng của Tập đoàn này những năm gần đây là:










Thứ hai, trên thị trường điện thoại di động và vi xử lý, thị phần của Samsung ngày càng cao, vai trò của Samsung ngày càng lớn. Tính trong quý 4 năm 2011, thị phần điện thoại di động toàn thế giới còn lại 3 đại gia với tỷ lệ: Nokia - 23,4 %, Samsung - 19,4 % và Apple - 7,4 %... Con số ấy, cùng khoảng thời gian, ở thị trường vi xử lý là: Samsung - 44,3 %, Hynix - 23,3 %, Micron - 12,1 %, Elpida - 12,0 %...



Thứ ba, càng ngày người ta càng thấy rõ sự đối đầu giữa Samsung và Apple, còn mang danh cuộc đối đầu giữa Hàn Quốc và California. Những con số quan trọng nhất trong cuộc tử chiến này là (số liệu tính theo năm kinh doanh gần nhất, từ tháng 10/2010 đến tháng 10/2011):










Mỗi chúng ta có thể tự thấy, ở những con số mang tính “chất lượng”, Apple vẫn còn mạnh hơn rõ rệt, nhưng tính toàn thể, hiện nay, trong lĩnh vực điện tử dân dụng, thì ngay sau Apple, Samsung là đáng kể nhất. Để minh chứng, lại xin trích thêm một con số thể hiện rõ sự trưởng thành của Samsung về công nghệ: Năm 2011, số điện thoại cao cấp Samsung bán trên toàn thế giới là 94 triệu chiếc, hơn Apple 800.000 chiếc, và về giá thì Samsung cũng tiến tới gần Apple.



Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh 2 đặc điểm cơ bản trong sự phát triển của Samsung: phát triển vững chắc trong một kế hoạch dài hạn (điện thoại di động), và phát triển dữ dội để đạt tới một uy thế có sức khống chế (sản xuất chips mạnh đến mức các nhà sản xuất máy tính thế giới đã lo sợ khi nghĩ tới khả nang bị phụ thuộc).



Những con số đủ thuyết phục. Tuy nhiên, con số thì bao giờ cũng khô khan, nên chúng ta hãy tìm đến với những câu chuyện.



Nước Cộng hòa Samsung và lòng trung thành công dân




Chúng ta biết đến nhiều công ty Hàn Quốc đóng vai trò quyết định trong quá trình hóa rồng của đất nước này: LG, Huyndai, Posco..., nhưng Samsung vượt trên tất cả. Một mình Samsung chiếm đến 1/5 tổng sản phẩm nội địa của cả đất nước.



Samsung được biết đến trước hết như một tập đoàn điện tử, với 79 đơn vị trực thuộc có dòng vốn luân chuyển thường xuyên với nhau. Về sau này, Samsung mở rộng kinh doanh sang nhiều lĩnh vực khác, ví như Samsung C&T chính là công ty xây dựng tạo nên tòa nhà cao nhất thế giới Burj Khalifa ở Dubai.



Samsung Galaxy S4, sản phẩm mới nhất của dòng điện thoại Samsung, mới trình làng hôm 14/3


Doanh số, tính theo tỷ USD, của các ngành sản xuất chính thuộc Samsung là: Viễn thông (công nghệ mạng, điện thoại cầm tay, máy tính bảng) - 50, Bán dẫn (bộ nhớ, smartcard, bộ kiểm tra vi mô) - 33, Các thiết bị số hóa (máy thu hình, notebooks, máy in laser, điều hòa nhiệt độ, máy điện gia dụng) - 53, Màn hình (dùng cho máy thu hình, điện thoại, máy tính bảng) - 26...



Tuy nhiên, Samsung vượt qua mọi quan niệm về công ty hay tập đoàn: người ta nói rằng, có một vương quốc Samsung, hay nước cộng hòa Samsung. Nơi đó, trẻ em sinh ra trong bệnh viện Samsung, đi học ở những ngôi trường do Samsung xây dựng, sống trong những căn hộ làm bởi Samsung, và sau khi đã sử dụng hết tất cả mọi thiết bị do Samsung chế tạo, sẽ ra đi trong một chiếc... quan tài Samsung.



Một chuyên gia Bồ Đào Nha, từng làm việc cho Samsung, kể chuyện về cơ sơ nghiên cứu chủ yếu của Samsung nằm gần Seuol. Cơ sở này trải dài 5 km, có tới 82.000 nhân viên. “Xe chống gián điệp đột nhập chạy suốt ngày đêm xung quanh căn cứ. Luôn luôn có những người Trung Quốc bị phát hiện và bắt giữ”.



Nhân viên nghiên cứu phục vụ cho những dự án gai góc sống trong những căn hộ đặc biệt ở gần cơ quan. Nguyên tắc căn bản nhất: cấm tiếp xúc, kể cả với người thân trong gia đình, và kéo dài hàng tháng trời, cấm tuyệt đối. Chừng nào dự án còn tiếp tục thì luật cấm vẫn còn hiệu lực. Chỉ có như vậy mới có thể đảm bảo an ninh, bí mật ở mức đáng tin cậy.



“Xe chống gián điệp đột nhập chạy suốt ngày đêm xung quanh căn cứ. Luôn luôn có những người Trung Quốc bị phát hiện và bắt giữ”



Vào buổi chiều ngày thứ sáu, khi tiếng nhạc đồng loạt vang lên qua loa phóng thanh, tất cả các nhân viên phát triển công nghệ đều đứng lên, cầm lấy giẻ lau và tự làm vệ sinh quanh chỗ ngồi của mình. Đấy là chỗ làm việc của chính họ mà, và họ chịu trách nhiệm về mọi thứ thuộc về họ.



Một giám đốc Samsung thổ lộ: “Lòng trung thành là quan trọng. Để thể hiện lòng trung thành của mình, cứ mỗi sáng, đúng 8 giờ là nhân viên phải có mặt. Đồng thời, gần như là một nghĩa vụ, tối tối các đồng nghiệp phải ngồi uống cùng nhau. Uống gì thì không quan trọng, miễn là ngồi với nhau. Và thường thì sau đó, cũng cỡ 8 giờ, mỗi người lại đặt một cái gối lên bàn làm việc của mình".



Trong hợp đồng lao động ghi rõ 40 giờ làm việc trong một tuần, nhưng thật ra ai cũng làm việc 70 - 80 giờ. Ai không đi làm ngày thứ Bảy, sẽ tự nguyện báo cáo với cấp trên. Có nhiều kỹ sư kể lại, họ làm việc, ăn, ngủ cỡ 5 tiếng, rồi lại tiếp tục làm việc.



Từ công ty đến dân tộc



Trong các tài liệu quảng cáo của Samsung có một tấm bảng vẫn dùng trong các giảng đường nhà trường. Trên tấm bảng ấy có ghi lại những thành tựu chủ yếu của nhân loại: Máy hơi nước, bóng đèn điện, điện thoại... Một học sinh đứng bên cạnh và hỏi : “Vì sao người Hàn Quốc chưa phát minh ra cái gì cả?”. Câu trả lời: “Samsung đang làm việc để thay đổi điều đó”.



Ngày nay Hàn Quốc thuộc về số những quốc gia có mức sống cao trên thế giới. Ngay từ năm 2005, với sự đầu tư vượt bậc của nhà nước, 90 % các căn hộ ở Hàn Quốc đã có kết nối băng thông giải rộng. Trong chiến lược tầm nhìn, dự kiến rằng trong mỗi gia đình Hàn Quốc sẽ có một người máy giúp việc vào năm 2020. Bất cứ người dân Hàn Quốc nào cũng có lòng tin vào “tiến bộ công nghệ”, nơi Samsungluôn là một trong những kẻ tiên phong.



Thế mà, nửa đầu thế kỷ 20 cả nước Triều Tiên vẫn là thuộc địa của Nhật. Nhật, với Samsung, vừa là nơi học tập, vừa là tấm gương để noi theo, lại vừa là một cái đích để phấn đấu, một mục tiêu để vượt qua. Một cựu giám đốc Samsung thổ lộ: “Người Nhật luôn muốn là số một. Họ có một tinh thần tuyệt vời. Và chúng tôi cũng vậy”. Ông Lee Byung-chul, sinh năm 1910, người sáng lập Samsung năm 1938, đã bắt đầu sự nghiệp vẻ vang của mình khi du học ở Nhật.



Cha và con, Lee Byung-Chul và Lee Kun-hee


Năm 2001, Samsung đặt ra mục tiêu vượt qua Sony trong vòng 5 năm. Lúc ấy, người ta cho rằng đó là mục tiêu viễn vông. Nhưng rồi một con số nói lên tất cả: Vào năm 2012, bộ ba tập đoàn điện tử khổng lồ của Nhật là Sony, Panasonic và Sharp dự kiến khoản lỗ chừng 17 tỷ USD, còn Samsung dự kiến đầu tư 22 tỷ USD.



Ngay từ những năm 1990, trung tâm toàn cầu về công nghệ cao đã dịch chuyển từ Tokyo về Seoul. Ngay cả những tập đoàn thuộc Thung lũng Silicon cũng chọn Seoul làm thị trường thử nghiệm những sản phẩm mới của mình. Bởi vì tại thủ đô Hàn Quốc có tới 10 triệu dân, và ai cũng háo hức đến mức nghiện ngập những sản phẩm mới nhất về điện thoại di động và internet. Người ta nói rằng, công nghệ trở thành “món ăn chung của cả dân tộc”. Samsung cũng đi lên từ cái thị trường nội địa kỳ diệu đó.



Kèm theo sự phát triển công nghệ là sự phát triển sự nghiệp giáo dục. Hàn Quốc càng ngày càng có nhiều người tài. Trong số 1000 nhân viên lãnh đạo cấp cao của Samsung chỉ có đúng một người là người nước ngoài. Và đấy là một phụ nữ. Một chuyên gia Đức muốn dấu tên, nói rằng, người Hàn Quốc luôn nói với ông rằng: “Chúng tôi ở lại vĩnh viễn với Samsung, còn tất cả các ông đến rồi lại đi. Điều này thể hiện rõ trong cách giao việc và quản lý việc ở công ty này”.



Còn bây giờ, Seoul đang hướng về California, Samsung đang đọ sức với Apple.




Con người và con đường


Năm 1938, Lee Byung-chul thành lập một công ty buôn bán thực phẩm có tên là Samsung. Đó là những năm chiến tranh, đói kém, và người ta cần ăn. Tới những năm 1950, khi chưa ai có khái niệm gì về để dành hay tích lũy, Byung-chul lại mở thêm ngành bảo hiểm nhân thọ. Chuyển sang những năm 1970, ông lái công ty sang hướng máy tính, dù ở Hàn Quốc lúc đó chưa có bất cứ cơ sở nào cho ngành kỹ nghệ hiện đại này. Nhà lãnh đạo bao giờ cũng phải có tầm nhìn xa, kèm theo là những kế hoạch, những khoản đầu tư cho nhiều chục năm.



Gần nửa thế kỷ sau, Lee Kun-hee trở thành ông chủ mới của đế chế Samsung. Khi máy thu hình kết thúc giai đoạn kỹ nghệ bóng điện tử, trong tư cách người dẫn đầu thị trường, Sony cứ băn khoăn chờ đợi và suy nghĩ xem màn hình phẳng loại nào sẽ có khả năng thống trị. Samsung, trái lại, ngay lập tức đầu tư vào tất cả các chuẩn: LCD, Plasma, OLED và trở thành số một trong thị trường béo bở này năm 2006.



Trong các thiết bị iPad đời mới, Apple cũng đặt mua màn hình Retina từ tập đoàn đối thủ Samsung. Triết lý của Lee Kun-hee: “Trong những loại hàng hóa có thể bị băng hoại theo thời gian, từ cá cho đến điện thoại di động, tốc độ là yếu tố quyết định”. Tốc độ thể hiện trước hết ở việc ra quyết định. Samsung bắt đầu từ một cơ sở liên thông và vững chắc cấp thấp, đẩy những ý tưởng lên cao, rồi ra quyết định cực nhanh ở thượng đỉnh. Rất nhanh, rất rõ ràng, và cũng không kém phần ầm ĩ. Như kiểu chỉ huy trong quân đội.



Có một chuyện kể mang dáng vẻ huyền thoại. Giữa những năm 1990, Lee thăm Mỹ, vào một cửa hàng đồ điện tử ở Los Angeles. Trên các giá để hàng, ông không tìm thấy bất cứ thứ gì có thể nhắc đến Samsung. Ông quyết định hướng sản xuất theo thương hiệu, một cái tên có nghĩa là chất lượng, với giá cả hợp lý. Kiểu như BMW. Cho đến hôm nay, theo công bố của tập đoàn nghiên cứu thị trường Interbrand năm 2011, Samsung là thương hiệu đứng thứ 17 trên toàn thế giới, còn BMW đứng thứ 15.



Những “búp bê” thường thấy ở Samsung: Lee Kun-hee và Steve Jobs, là Samsung và Apple, những địch thủ chiến đấu với nhau và luôn cần có nhau


Câu chuyện khác còn ghê gớm hơn, xẩy ra ở một nhà máy sản xuất tại Gumi. Gần 2000 công nhân tụ tập ở sân nhà máy. Trước mắt họ là một đống máy Fax và máy in mang hiệu Samsung, tổng trị giá cỡ 50 triệu USD. Phía trên là tấm băng lớn in dòng chữ “Chất lượng là niềm tự hào của tôi”. Lee Kun-hee ngồi trong số họ, cùng Hội đồng quản trị của công ty. Sau đó, 10 công nhân được chọn tách rời máy móc ra từng mảnh riêng, rồi lấy búa đập nát từng mảnh. Tất cả bị ném vào lửa, trước sự chứng kiến của cả ngàn người, ai cũng ròng ròng nước mắt.



Lý do của sự kiện bi thảm này: Nhân dịp lễ Noel và năm mới, ông Lee Byung-chul dùng các sản phẩm Samsung làm quà tặng. Một số trong đó không hoạt động tốt và bị than phiền. Phải trừng phạt ở mức đủ cho răn đe.



Hiện nay, nhiều tập đoàn không còn nhà máy sản xuất của riêng mình nữa, trong đó có cả Apple. Họ tin cậy gửi gắm việc sản xuất vào tay những nhà máy chuyên sản xuất theo mẫu, theo hợp đồng. Cái giá phải trả: Quá trình thương thảo mỗi khi thay đổi. Samsung thì vẫn có những nhà máy của riêng mình, thậm chí sản xuất đến cả các linh kiện, và do đó có thể đổi thay nhanh chóng từ ý nghĩ cho tới sản xuất.



Phần thưởng cho thành tích của nhân viên, Samsung không trả theo năm, mà còn có thể tính và trả theo từng quý. Người ta không nói con số cụ thể, nhưng mức thưởng sau mỗi thương vụ thành công được ghi nhận là “rất tốt”. Nghĩ nhanh, làm nhanh, mà thưởng cũng nhanh.



Chúng ta đều biết, quanh Samsung cũng có cả những chuyện không hay. Chuyện gia đình: Một người con gái tự treo cổ năm 2005 trong căn hộ riêng ở New York, hai người con lớn kiện về chuyện phân chia tài sản, vì đế chế Samsung được giao lại cho người con thứ ba, khác với truyền thống thông thường. Chuyện làm ăn: Có những bê bối, điều tra liên quan đến hối lộ và trốn thuế, có những cáo buộc liên quan tới chuyện vi phạm bản quyền.



Nhưng cuối cùng Samsung đã vượt qua những thử thách ấy. Sau vụ xét xử trốn thuế năm 2009, Samsung đã có một đền bù xứng đáng cho Hàn Quốc: Họ góp phần chủ chốt trong việc đưa về cho xứ sở Kim Chi quyền đăng cai Thế vận hội mùa Đông 2018.



Và dù thế nào chăng nữa, người ta nói Samsung thuộc về Hàn Quốc, rồi Hàn Quốc lại thuộc về châu Á, nơi đạo lý chung đã nói rất rõ ràng: Bất cứ cá nhân nào cũng đứng sau cả một sự nghiệp.

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015

BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG CỦA THƯƠNG HIỆU GUCCI




Bí quyết để làm nên tên tuổi Gucci chính là tìm ra còn đường để phát triển thời trang thành nghệ thuật phục vụ cho nhu cầu sử dụng của con người. Gucci không chỉ giữ bản sắc truyền thống mà vẫn luôn được coi là hợp thời, đơn gian mà thành sang trọng, độc đáo mà không bị coi là dị biệt.

Vạn sự khởi đầu nan





Khởi thủy của hãng thời trang này chỉ là một cửa hiệu đồ da nhỏ ở thành phố Florence (Italia) của một thương gia và đồng thời là một nhà thiết kế tên là Guccio Gucci. Hàng hóa được làm và bán ra chủ yếu là yên ngựa và những vật dụng dùng khi cưỡi ngựa. Guccio Gucci sinh năm 1881 ở Florence. Cha ông là thợ thủ công đồ da. Cửa hiệu nói trên được Guccio Gucci thành lập năm 1906. Chỉ thời gian ngắn sau, Guccio Gucci sang Paris và London làm thuê trong khách sạn.








Chính hai nơi này đã đưa Guccio Gucci đến với thế giới thời trang. Tại hai kinh đô của thế giới thời trang thưở ấy, Guccio Gucci đã nhận ra bản chất đặc thù của thế giới thời trang là phục vụ cho cái đẹp của con người nhưng đồng thời cũng còn dẫn dắt con người đến với cái đẹp mà thời trang có thể sáng tạo ra. Guccio Gucci nhận ra tiêu chí thành công trong thế giới thời trang là cái đẹp và sáng tạo, sự hài hòa giữa vật dụng và con người trong từng bối cảnh.Guccio Gucci Điều khiến Guccio Gucci tâm đắc là nhận thức rằng thế giới thời trang không chỉ có dư địa để tung hoành về sáng tạo nghệ thuật, mà còn ẩn chứa cơ hội kinh doanh vô hạn bởi nhu cầu về thời trang của con người là không giới hạn. 14 năm sau, Guccio Gucci trở về Florence và mở cửa hàng mới, nhưng không phải để bán sản phẩm của nhà sản xuất khác, mà để giới thiệu và bán những thành quả sáng tạo nghệ thuật của chính mình. Cũng vẫn là hàng đồ da phục vụ cho cưỡi ngựa, nhưng do chính Guccio Gucci thiết kế và được sản xuất ra tại ngay chính trong công xưởng của ông.



Nhưng đó chỉ là những sản phẩm ban đầu làm nền cho chiến lược kinh doanh mới. Trong những tháng ngày lưu lạc tại Paris và London, Guccio Gucci làm quen với phong cách sống của giới thượng lưu trong xã hội, nhận biết nhu cầu của tầng lớp giàu sang phú quý, hiểu biết quan điểm và mong muốn của họ về cái đẹp. Cưỡi ngựa và đi du lịch là mốt thời thượng của giới thượng lưu. Cái mà họ cần không chỉ là vật dụng cho cưỡi ngựa, mà còn cả túi sách và vali cho các chuyến đi. Cái mà họ thích là tất cả đồng bộ, cùng có ký hiệu của một thương hiệu, từ yên ngựa đến dây cương, từ khăn quàng đến giày ủng, từ túi xách tay đến vali, từ túi đựng đồ đến găng tay, mũ áo và cả những đồ trang sức phù hợp cho cưỡi ngựa và đi du lịch. Gucci là hãng đầu tiên đáp ứng nhu cầu và mong muốn "tất cả trong một” đó.








Guccio Gucci chuyên về đồ da, sử dụng những thợ thủ công lành nghề và chuyên nghiệp nhất. Phương châm kinh doanh của Gucci là muốn bán được sản phẩm với giá cao thì mỗi sản phẩm của Gucci phải là một tác phẩm nghệ thuật. Cho nên sáng tạo nghệ thuật và chất lượng sản phẩm thể hiện ở vẻ đẹp hài hòa mà không lòe loẹt, sang trọng lịch thiệp mà không bị coi là xa xỉ phô trương. Ba màu sắc "xanh, đỏ, xanh” gắn với thương hiệu này cũng có nguồn gốc từ thời ấy. Gucci nổi danh như cồn nhờ định hướng chiến lược thiết kế và kinh doanh này.




Muốn bán được sản phẩm với giá cao thì mỗi sản phẩm của Gucci phải là một tác phẩm nghệ thuật.




Từ Florence, Guccio Gucci mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh ra khắp Italia, trước tiên là Roma và từ đó chinh phục kinh đô thời trang của Italia là Milano. Đầu thập kỷ 50, Gucci vươn sang nước Mỹ và nhanh chóng trở thành thương hiệu Italia nổi tiếng nhất ở đây. Guccio Gucci mất năm 1953. Ba người con trai kế tục sự nghiệp của cha, trung thành với ý tưởng và định hướng kinh doanh của người cha. Năm 1982, Gucci trở thành một công ty cổ phần. Thời gian từ năm 1988 đến 1995 là thời kỳ đen tối trong lịch sử hãng thời trang này với việc một tập đoàn đầu tư ở Bahrein mua một nửa cổ phần của Gucci và năm 1993 thậm chí còn điều hành công ty, chấm dứt thời kỳ chỉ có người trong dòng họ Gucci quản lý và điều hành công ty. Năm 1995, người cháu của Guccio Gucci là Maurizio Gucci, người đã từng đứng mũi chịu sào cho công ty trong nhiều năm, bị bắn chết. Bất đồng quan điểm và tranh chấp tài sản trong gia đình đã làm tổn hại đến thanh danh của thương hiệu này.



Bí quyết thành công




Có ba bí quyết thành công giúp Gucci trở thành thương hiệu nổi tiếng và đắt giá thuộc loại hàng đầu trong thế giới thời trang. Bí quyết đầu tiên chính là tính đồng bộ trong sáng tạo sản phẩm. Tính đồng bộ này được coi là công lao lớn nhất của Guccio Gucci. Các loại sản phẩm của Gucci đều luôn hài hòa khi được sử dụng cùng với nhau, bất kể vào thời điểm nào trong ngày, mùa nào trong năm và bối cảnh sử dụng chúng. Chúng là vật dụng riêng biệt, với giá trị sử dụng và công năng riêng rẽ khác nhau mà lại bổ sung cho nhau và cùng tôn vinh thương hiệu. Hầu như không có thương hiệu thời trang nào trên thế giới cạnh tranh nổi với Gucci về tính đồng bộ đó. Bí quyết thành công thứ hai của Gucci là đã biến sản phẩm mang thương hiệu này trở thành vật dụng đồng hành không thể thiếu đối với những ai muốn được coi là sành điệu về thời trang và giới thượng lưu. Đối tượng mà Gucci nhằm chinh phục là những người không coi trọng tiện ích của vật dụng bằng cảm giác được sở hữu thương hiệu. Cho nên mới nói Gucci thôi miên lý trí chính vì thế.







Bí quyết thành công thứ ba của Gucci là tuy mang tính nghệ thuật hiện đại nhưng lại luôn trên nền tảng truyền thống. Sản phẩm của Gucci đều như thể hiện được cả quá trình thay đổi theo thời gian, trong cái mới đấy vẫn hiện diện cái gốc rễ từ xa xưa. Nó làm cho sản phẩm thời trang mà lại không bị nhanh chóng lỗi thời. Logo của thương hiệu này rất đơn giản mà ẩn chứa đầy hàm ý sâu xa và thông điệp nối quá khứ với tương lai.



Từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước, hai chữ cái GG được sử dụng chính thức làm biểu tượng cho thương hiệu. Chúng được xếp đặt theo nhiều cách khác nhau và rồi cuối cùng đọng lại ở hình ảnh hai chữ cái này lồng vào nhau. Có người nói rằng việc lồng ghép theo kiểu quay mặt chữ cái vào nhau đó hàm ý chỉ có Gucci mới làm ra được những sản phẩm thời trang như Gucci, và thế giới thời trang dù rồi đây còn biến động như thế nào cũng như cảm nhận của con người về thời trang rồi đây còn thay đổi như thế nào đi chăng nữa thì rồi tất cả cũng sẽ lại trở về với Gucci.



Cách lý giải này xem ra cũng có lý bởi một khi lý trí đã bị thôi miên rồi thì tâm lý và hành động của con người sẽ bị những gì mà họ yêu thích, khao khát và sùng bái dẫn dắt - như những sản phẩm của Gucci.


----Các bạn có bị con quái vật này lôi cuốn không???????---

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015



Lịch sử thương hiệu Gucci
Khởi đầu từ một cửa hàng kinh doanh nhỏ tại vùng Florence (Italy) những năm 20 của thế kỳ trước, ngày nay, Gucci được biết đến là một trong những thương hiệu sang trọng nhất thế giới.


Năm 1921, Guccio Gucci mở một công ty đồ da và một cửa hàng nhỏ bán các loại vali, túi xách bằng da tại quê hương mình, Florence. Với kinh nghiệm nhiều năm làm việc tại khách sạn Savoy ở London, ông say mê những sản phẩm tinh xảo, thẩm mỹ cao của những người quý tộc Anh và đã giới thiệu sự tinh tế này tại Italy, thông qua những sản phẩm bằng da có một không hai, được thiết kế và sản xuất nhờ bàn tay lành nghề và sự khéo léo của những người thợ thủ công vùng Tuscan.



Chỉ trong vòng vài năm, nhãn hiệu sản phẩm của Gucci đã có những thành công lớn, được nhiều khách hàng khó tính để ý. Các sản phẩm của Gucci tung ra thị trường gồm có túi, vali, găng tay, giầy và thắt lưng và dần trở thành những biểu tượng trong ngành thời trang, được đánh giá cao về tính thẩm mỹ và sự sáng tạo.



Đối mặt với việc thiếu nguyên liệu tiêu chuẩn trong những năm khó khăn dưới thời độc tài phát xít ở Italy, Gucci đã tự trở thành một công ty vừa sáng tạo sản phẩm vừa cung cấp nguyên liệu. Sản phẩm túi xách "Bamboo Bag" được giới thiệu, trở thành một trong những sản phẩm đặc trưng, tiêu biểu đầu tiên trong vô số sản phẩm của Gucci. Một sản phẩm được các thành viên Hoàng gia và những người nổi tiếng ưa chuộng. Sản phẩm này vẫn còn được sản xuất cho tới ngày nay.



Trong suốt những năm 50 của thế kỷ trước, dải băng trên nhãn hiệu của Gucci với ba sọc xanh lá cây - đỏ - xanh lá cây, lấy cảm hứng từ đai yên (ngựa), tiếp tục được ghi nhận là một sự thành công vang dội, được coi là một trong những dấu hiệu nhận biết thông dụng nhất của sản phẩm. Với các cửa hàng được mở ở Milan rồi New York, Gucci bắt đầu xây dựng hình ảnh toàn cầu của mình, là biểu tượng của một sản phẩm sang trọng và hiện đại. Guccio Gucci qua đời năm 1953 và con trai của ông, Aldo, Vasco, Ugo và Rodolfo đã theo bước cha mình.



Những năm 60 của thế kỷ trước, Gucci giới thiệu thêm nhiều sản phẩm mới, được coi là bước đột phá vào thời điểm đó. Những sản phẩm này trở thành những thiết kế nổi tiếng còn mãi với thời gian. Đệ nhất phu nhân Mỹ, Jackie Kennedy, khi đó đã sử dụng chiếc túi đeo vai Gucci, sản phẩm ngày nay có tên "Jackie O". Liz Taylor, Peter Sellers và Samuel Beckett dùng "Hobo Bag". Các sản phẩm của Gucci cũng góp mặt trong bộ sưu tập tại Viện nghiên cứu Trang phục thuộc Bảo tàng Nghệ thuật New York. Thời gian này, Gucci tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh ra thế giới với những cửa hàng tiếp theo được mở ở London, Paris, Palm Beach và Beverly Hills (Mỹ). Giữa những năm 60, Gucci bắt đầu sử dụng logo là hai chữ "G" gắn liền nhau nổi tiếng.



Những năm tiếp theo, Gucci tiếp tục mở rộng ra bên ngoài biên giới Italy, theo đúng mong muốn của Aldo Gucci, người con trai đầu của ông Guccio Gucci, với mục tiêu mới là khu vực châu Á. Các cửa hàng tại Tokyo và Hong Kong ra đời trong khoảng thời gian này. Công ty cũng tăng cường phát triển những sản phẩm mới, thực hiện nhiều nghiên cứu trên những chất liệu mới, lạ và sang trọng, nhưng vẫn tuân theo những tiêu chí từ ngày đầu. Những bộ sưu tập cổ điển được thiết kế lại trong những hình dáng, màu sắc hiện đại. Nhiều sản phẩm mới cũng được giới thiệu.



Năm 1982, Gucci trở thành công ty đại chúng và quyền lãnh đạo được chuyển qua cho con trai của Rodolfo, Maurizio Gucci, người đang nắm giữ 50% cổ phần của Công ty. Năm 1984, Domenico De Sole sở thành Chủ tịch của Gucci America. Investcorp, một công ty đầu tư có trụ sở tại Bahrain, mua 50% cổ phần còn lại của Aldo Gucci và con cháu ông cuối những năm 80.





Gucci tiếp tục tạo tiếng tăm trên toàn cầu thông qua việc kết hợp truyền thống và hiện đại vào sản phẩm của mình. Tom Ford trở thành Giám đốc sáng tạo của Gucci năm 1994 và đem nhãn hiệu sang trọng này tiếp cận với những người nổi tiếng, các ngôi sao trong các lĩnh vực. Domenico De Sole được chỉ định làm Giám đốc điều hành năm 1995. Năm 1998, Gucci là "Công ty thành công nhất châu Âu" do Liên đoàn Báo chí Kinh doanh châu Âu bầu chọn, vì những thành công trong kinh doanh, về tầm nhìn chiến lược và hệ thống quản lý, điều hành hiệu quả. Năm 1999, Gucci "kết duyên" với Pinault-Printemps-Redoute và chuyển đổi từ công ty một nhãn hiệu, trở thành Tập đoàn sở hữu với nhiều nhãn hiệu.

After De Sole và Ford rời khỏi vị trí năm 2004, Mark Lee được chỉ định làm Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Gucci năm 2005. Ngày nay, Giám đốc sáng tạo của Tập đoàn do Frida Giannini đảm nhiệm. Gucci tiếp tục khai thác hướng tận dụng những nét truyền thống. Gucci luôn được nhắc đến là thương hiệu và sản phẩm cao cấp hàng đầu trong lĩnh vực thời trang.


... Những khó khăn của ông lớn ra sao, mời bạn đọc tiếp phần tiếp theo....

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015



CÂU CHUYỆN THIẾT KẾ THƯƠNG HIỆU Ở APPLE: QUẢ TÁO KHUYẾT LÀM CẢ THẾ GIỚI THÈM MUỐN




Biến cái phức tạp thành đơn giản, nâng cái tầm thường lên đỉnh cao nghệ thuật, bán thiết bị kỹ thuật cao với giá thấp, làm cả thế giới mất ăn mất ngủ vì chờ đợi. Apple – quả táo khuyết đang khiến dân công nghệ phát cuồng.

Năm 1975, Steve Jobs, chàng sinh viên 20 tuổi đã bỏ học quay về quê nhà ở Bắc California nhằm tìm kiếm một công việc thú vị hơn. Với vị trí là một nhân viên lập trình game cho hãng Atari, anh tụ tập giải trí với một nhóm người cùng sở thích ở Menlo Park được gọi là Câu lạc bộ máy tính Homebrew.

Anh tham gia vào các buổi họp mặt buổi tối, và đã có dịp thấy một thành viên khoe chiếc máy tính cá nhân mạnh mẽ hiệu Altair của mình. Chiếc máy đời đầu này được lắp ráp từ một bộ gồm nhiều sản phẩm được đặt mua qua một công ty đặt hàng thư tín ở Albuquerque, và đối với những thành viên của câu lạc bộ Homebrew thì thiết bị này thật thời thượng.

Hầu hết những người có mặt ở đó đều thấy được tiềm năng của chiếc máy. Còn Jobs thì nghĩ đến một kế hoạch kinh doanh đầy táo bạo và hấp dẫn.

Thiếu kỹ năng cơ khí, máy móc cần thiết để biến ý tưởng thành hiện thực, Jobs rủ một thành viên tóc dài khác của Homebrew tên là Steve Wozniak cùng tham gia với mình. Chàng trai 25 tuổi này – vốn là con một kỹ sư tên lửa của Hãng Lockheed có tên gọi thân mật là “Woz”, đã viết được ngôn ngữ lập trình và thiết kế thành công một bo mạch.

Anh cũng theo đuổi niềm đam mê điện tử của mình với công việc tại một công ty tiên phong ở thung lũng Silicon có tên là Hewlett-Packard, nhưng anh nhận thấy tiềm năng rất lớn trong những gì mà Jobs đã mường tượng ra.

Để thu gom đủ số tiền cần thiết để bắt tay vào công việc, anh đã bán chiếc máy tính có chức năng lập trình của mình, trong khi Jobs nói lời tạm biệt với chiếc xe tải nhỏ hiệu Volkswagen của anh ta. Hai người này lập tức bắt tay vào gầy dựng sự nghiệp kinh doanh trong gara của cha mẹ Jobs tại Los Altos.

Sản phẩm đầu tiên ra đời với sự hợp tác của họ là chiếc máy tính Apple I, một thiết bị có nền tảng là bảng mạch điện tử mà họ đã bán được thông qua một nhà bán lẻ địa phương với giá… 500 đôla.

Tuy đã sẵn sàng chuyển sang bước tiếp theo trong công việc kinh doanh nhưng lại nhận thấy được giới hạn của mình, họ đã thuyết phục một người đàn ông 34 tuổi tên là Mike Markkula tham gia cùng họ.

Markkula vừa chấm dứt làm kỹ sư điện tử cho Intel, một công ty có giá trị nhiều triệu đôla. Wozniak tập trung xử lý những vấn đề về kỹ thuật, Jobs và Markkula thu thập tiền mặt và vay vốn, họ mở một văn phòng Cupertino, và chính thức hợp tác với nhau vào ngày 3/1/1977.

Chiếc máy tính thật sự đầu tiên của họ, chiếc Apple II, được ra mắt khoảng 15 tháng sau đó. Hầu như chỉ có Woz đảm đương trọng trách phát triển chiếc máy này. Nó ra mắt lần đầu tiên vào năm 1978 tại lễ khai mạc hội chợ máy tính West Coast. Các nhà quan sát ngay lập tức bị mê hoặc bởi cỗ máy tích hợp màn hình, bàn phím, nguồn điện và khả năng đồ họa mạnh mẽ này.

Doanh thu hàng năm của công ty sau đó đạt đến con số 300 triệu đôla, giúp Apple lọt vào danh sách Fortune 500 và thu hút sự chú ý của giới truyền thông (cũng như những đối thủ cạnh tranh tương lai như Tandy và Commodore).

Rất nhiều người nhận tài trợ cho công ty đã giúp Apple tập trung phát triển không ngừng về mặt công nghệ. Vào năm 1980, doanh thu chỉ riêng đối với các sản phẩm máy tính cá nhân đã đạt đến con số 1 tỷ đôla.

Khi Apple đã nắm giữ hơn 15% thị trường kinh doanh máy tính và ngày càng lớn mạnh thì IBM mới muộn màng nhận ra rằng họ không thể phớt lờ ngôi sao đang lên này. Khi ông trùm của những máy tính khổng lồ (mainframes) nhảy vào thị trường máy tính để bàn, hình ảnh chuyên nghiệp (suit-and-tie) của họ (chưa nói đến tiếng tăm lâu đời về máy móc điện tử) thì ngành kinh doanh này trở nên nóng bỏng. Sự hấp dẫn một thời của Apple và đà phát triển của họ đột nhiên bị chững lại. Sự thật là, thị trường kinh doanh máy tính đã trở thành một vách đá dựng đứng rất khó chinh phục.

Nhưng Jobs và cả Apple vẫn tin rằng họ sẽ chiến thắng. Họ duy trì một cách bướng bỉnh hình ảnh một công ty không cổ phần hóa và điều này làm cho sự khác biệt giữa họ với những công ty có lượng sản phẩm bán ra nhiều nhất ngày càng rõ rệt và họ đánh mất dần thị phần. Trong hoàn cảnh đó, họ vẫn cố duy trì vị trí dẫn đầu của mình về mặt công nghệ.

Bước cải tiến mạnh mẽ tiếp theo của công ty được bắt đầu không lâu sau khi Jobs tham quan trung tâm nghiên cứu Palo Alto của Xerox (PARC) vào năm 1979. Xerox đã sản xuất ra một trong những chiếc máy tính đầu tiên có tên gọi Alto, đây là chiếc máy đầu tiên sử dụng cả chuột và giao diện đồ họa.

Sau cùng ông đã kết hợp giao diện đồ họa mang tính cách mạng này (được phát triển nhưng chưa bao giờ sử dụng bởi phòng nghiên cứu PARC huyền thoại) vào lần giới thiệu sản phẩm lớn thứ ba của Apple chiếc máy tính Lisa (được đặt tên theo đứa con gái của ông). Lisa là chiếc máy tính thương mại đầu tiên kết hợp hai ý tưởng này lại với nhau.

Với nó, ông đã vẽ nên một đường ranh giới rõ ràng giữa tập đoàn Apple của mình và các đối thủ truyền kiếp cùng lĩnh vực. Nhưng dù Lisa có là một kỳ quan về mặt công nghệ và là một thành quả tuyệt vời đi chăng nữa, thì cái giá 10.000 đôla của nó là quá khả năng người tiêu dùng. Mặt khác, những chiếc máy tính cá nhân mới ra mắt của IBM đã được mua sạch.

Apple vội vàng tìm cách giải quyết. Một nhóm kỹ sư hàng đầu của công ty đã nghiên cứu chế tạo một chiếc máy tính hoàn toàn khác biệt có tên gọi là Macinstosh; trong khi Jobs đang mê mải với chiếc Lisa. Macintosh dựa trên nền tảng công nghệ bấm và kéo mà trẻ con cũng có thể sử dụng được.

Trong một bước đi sẽ chia cắt Apple thành nhiều phe phái nhỏ, Jobs đã đơn phương chiếm hữu dự án Macintosh sau bị cách chức vì Lisa không mang lại thành công. Ông bỏ qua những khó chịu cùng vai trò lãnh đạo của mình và đặt lại nhóm phát triển phát triển sản phẩm vào đúng vị trí, dựng lên một lá cờ hải tặc, và giương cao khẩu hiệu “máy tính cho phần còn lại của chúng ta”.

Mẩu quảng cáo đầu tiên của họ, một trong những mẩu quảng cáo nổi tiếng nhất từng được thực hiện, được thiết kế để dẫn dắt người tiêu dùng theo một hướng đi rõ ràng: Hoặc sử dụng máy tính của Apple, hoặc của IBM.

Và thông điệp năm 1984 đó vẫn rất rõ ràng cho đến ngày hôm nay. Đây là lời tuyên bố cố ý chống lại thế giới máy tính đang bị thống trị bởi máy tính Big Blue của IBM – mà trong quảng cáo bị một người phụ nữ yêu tự do giáng một đòn chí tử bằng một cây búa tạ.

Đoạn phim quảng cáo đó được dàn dựng bởi Ridley “Blade Runner” Scott tốn 1 triệu đôla, và chỉ được phát sóng một lần. Mẩu quảng cáo làm nhiều ủy viên ban quản trị công ty cảm thấy căng thẳng và người hâm bóng đá Mỹ ngạc nhiên, nhưng sự thật là nó đã được xem bởi gần một nửa số hộ gia đình Mỹ. Sáng hôm sau, khi Jobs chính thức công bố đứa con mới ra đời nặng gần 10 kg và có giá 2.495 đôla đó, công chúng đã được chuẩn bị và sẵn sàng.

Apple tuyên bố rằng 72.000 chiếc máy Mac đã được bán sạch chỉ trong vòng 100 ngày. Trong một năm, doanh thu của công ty tăng lên đến con số 2 tỷ đôla. Điều này đã thay đổi mọi thứ về hệ điều hành máy tính. Người ta chuyển từ hệ điều hành DOS với những dòng lệnh khó nhớ sang các thao tác bằng tay với cửa sổ và biểu tượng vô cùng trực quan.

Những thập niên kể từ khi chiếc máy Mac ra đời là những năm tháng thăng trầm của Apple. Sự ra đời của Macinstosh là điểm sáng cuối cùng của công ty trong vòng hơn một thập kỷ. Woz đã thực sự thay đổi nhiều sau khi công trình tim óc của ông cất cánh.

Ông lấy được một tấm bằng kỹ sư, biểu diễn nhạc rock và dạy bọn trẻ về máy tính. Jobs bị thay thế một cách phũ phàng bởi John Sculley, một ủy viên hội đồng quản trị cũ của tập đoàn Pepsi, được mời về Apple để củng cố hình ảnh của công ty trên thị trường chứng khoán. Chỉ mới 30 tuổi và khá giàu có, Jobs không chờ lâu trước khi bắt đầu một công ty máy tính tiên tiến với tên gọi NeXT. Ông cũng mua lại xưởng làm phim hoạt hình Pixar, nơi mà sau này sẽ sản xuất ra những bộ phim gây tiếng vang lớn như “Thế giới côn trùng” hay “Câu chuyện đồ chơi”.

Apple tiếp tục gặp nhiều khó khăn. IBM không thể giữ được lợi thế của mình trong thị trường máy tính để bàn khi những bản sao giá thấp các dòng sản phẩm của nó tràn ngập thị trường. Dù vậy, những quy ước về công nghệ mà họ đã xác lập – dù rõ ràng là thua kém Apple đã trở thành một chuẩn mực không thể bác bỏ.

Hơn 95 trong số mỗi 100 khách hàng đều bắt đầu chọn sử dụng một chiếc máy tính “tương thích với IBM”, làm những sản phẩm của Apple bị phủ đầy bụi trên các kệ bán hàng. Cuối cùng Sculley bị thay bởi Michael Spindler, người sau đó lại bị thay bởi Gil Amelio. Vào tháng 7/1997, Amelio lại bị cho ra rìa và người hùng bị quên lãng Steve lại được đón chào quay về một lần nữa với cương vị Chủ tịch Hội đồng quản trị “lâm thời”.

Một ngày sau sự trở về của mình – vì điều này ông được thưởng một cổ phần và mức lương đôla một năm – Jobs bắt tay vào việc và sản xuất ra một thiết bị một lần nữa lại thay đổi thế giới – Chiếc iMac. Sự ra mắt của chiếc máy tính trong suốt này một năm sau đó đã giúp Apple lấy lại ngôi đầu bảng trong lĩnh vực công nghệ, doanh thu của công ty cũng như giá trị cổ phiếu của nó trên thị trường chứng khoán tăng vọt.

Không lâu sau, vào tháng 1/2000, Hội đồng Quản trị công ty đã nhất trí thưởng cho nỗ lực của Jobs bằng một chiếc máy bay phản lực Gulfstream V và 10 triệu đôla trong quyền ưu tiên mua cổ phiếu của Apple. Để đáp lại, ông đã bỏ từ “lâm thời” ra khỏi chức danh của mình.

Trở lại Apple lần này, Steve Jobs đã tiếp tục làm thế giới rúng động với những màn trình diễn thông qua bộ óc siêu việt của mình.

Đầu tiên, Steve tiến hành mua lại một loạt công ty trong ngành và nhắm vào các sản phẩm tiêu dùng kỹ thuật số chuyên nghiệp. Năm 1998, Apple mua phần mềm Macromedia’s Final Cut. Đây là tín hiệu đầu tiên trong việc thâm nhập thị trường kỹ thuật số của họ. Năm tiếp theo, Apple cho ra đời hai sản phẩm: iMovie cho người tiêu dùng phổ thông và Final Cut Pro cho giới làm phim chuyên nghiệp, trong đó Final Cut Pro đã thành công lớn với 800.000 người đăng ký sử dụng tính đến đầu năm 2007.

Ngày 19/5/2001, Apple mở các cửa hàng bán lẻ chính thức đầu tiên của mình tại hai bang Virginia và California. Sau đó là sự xuất hiện Cửa hàng Apple, bằng kính trong suốt với thang máy hình trụ và cầu thang xoắn dẫn vào bên trong, trên Đại lộ số 5, New York. Sự kiện này làm sửng sốt cả các nhà đầu tư lẫn người tiêu dùng lúc bấy giờ.

Năm 2002, Apple mua Nothing Real và nâng cấp thành Shake, Emagic thành Logic. Hai ứng dụng này và iPhoto đã hoàn chỉnh bộ sưu tập nổi tiếng về các phần mềm dành cho người tiêu dùng phổ thông có tên gọi là iLife của hãng Apple.

Ngày 9/1/2007, Steve Jobs thông báo thay đồi tên tập đoàn từ Apple Computer Inc. thành Apple Inc., cùng lúc là buổi giới thiệu một sản phẩm Apple mới, một lần nữa sẽ làm điên đảo cả thế giới: iPhone. Dù iPhone chỉ được tung ra thị trường vào tháng 6/2007, nhưng ngay lập tức, cổ phiếu của Apple tăng lên mức kỷ lục là 97,80 đôla và vượt qua mức 100 đôla Mỹ vào tháng 5/2007.

Tháng 2/2007, Apple có ý bán nhạc qua iTune Store mà không phải trả tiền bản quyền nhạc số nếu các tên tuổi lớn trong ngành thu âm chịu từ bỏ công nghệ chống sao chép trực tuyến. Tuy nhiên, chỉ có Hãng thu âm EMI đồng ý hợp tác với Apple vào tháng 2/2007 qua một thỏa thuận có hiệu lực kể từ tháng 5/2007.

Và, đúng như tuyên bố của Steve Jobs vào đầu năm, cuối tháng 6/2007, tiếp theo sự thành công vang dội của iPod, Apple tung ra thị trường Mỹ sản phẩm được hàng triệu người trông đợi: iPhone, thiết bị truyền thông đa phương tiện không phím, bộ nhớ chỉ có 8Gb và màn hình 3,5” cảm ứng tuyệt đối sử dụng thao tác “sờ” và “vuốt”.

Đây là sản phẩm “đinh” của thế giới trong năm 2007, ứng dụng công nghệ siêu cảm ứng có thể thực hiện mọi mệnh lệnh từ thao tác cùng lúc ở cả ba ngón tay người sử dụng như: cuộn, phóng to thu nhỏ, và xoay tròn các hình ảnh trên màn hình theo ý muốn.

Đây thực sự là một sản phẩm công nghệ cao đầy quyến rũ và dễ sử dụng đến mức… kinh ngạc! Một sản phẩm có khả năng làm thay đổi các khái niệm và nhận thức thông thường của chúng ta về điện thoại di động, máy quay phim chụp ảnh, máy nghe nhạc và cả máy vi tính.

Trong năm 2008, Apple sẽ giới thiệu trackpad dành cho các dòng máy laptop Apple trong tương lai, sử dụng công nghệ đa cảm ứng (multi-touch technology) mà họ từng ứng dụng vào các máy iPhone của mình.

Với khả năng điều hành xuất sắc và tinh thần theo đuổi sự hoàn mỹ tuyệt đối, Steve Jobs, linh hồn của Apple Inc., thậm chí còn được ví như một “Jobs Christ”, “Đấng cứu nạn… thất nghiệp” của nhân loại. Và điều này hình như có phần đúng.

Bất kể tia sét kỳ diệu kia có giáng xuống lần nữa trên cùng một tập đoàn hay không, tài năng của Jobs đến đây đã được khẳng định. Steve Jobs đã chứng minh rằng mỗi bước đi của ông và Apple là một “phép lạ”; và, câu chuyện cổ tích hiện đại này vẫn chưa đến hồi kết thúc.

.... nó sẽ còn tiếp diễn trừng nào con người còn có thể sử dụng được những công nghệ đó..

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

Từ quán cafe nhỏ cho tới một tập đoàn đa quốc gia.....


Cà phê Trung Nguyên

Ra đời vào giữa năm 1996 -Trung Nguyên là 1 nhãn hiệu cà phê non trẻ của Việt Nam, nhưng đã nhanh chóng tạo dựng được uy tín và trở thành thương hiệu cà phê quen thuộc nhất đối với người tiêu dùng cả trong và ngoài nước.





Chỉ trong vòng 10 năm, từ một hãng cà phê nhỏ bé nằm giữa thủ phủ cà phê Buôn Mê Thuột, Trung Nguyên đã trỗi dậy thành một tập đoàn hùng mạnh với 6 công ty thành viên: Công ty cổ phần Trung Nguyên, công ty cổ phần cà phê hòa tan Trung Nguyên, công ty TNHH cà phê Trung Nguyên, công ty cổ phần thương mại và dịch vụ G7 và công ty liên doanh Vietnam Global Gateway (VGG) với các ngành nghề chính bao gồm: sản xuất, chế biến, kinh doanh trà, cà phê; nhượng quyền thương hiệu và dịch vụ phân phối, bán lẻ hiện đại. Trong tương lai, tập đoàn Trung Nguyên sẽ phát triển với 10 công ty thành viên, kinh doanh nhiều ngành nghề đa dạng.




Đi tiên phong trong việc áp dụng mô hình kinh doanh nhượng quyền tại Việt Nam, hiện nay, Trung Nguyên đã có một mạng lưới gần 1000 quán cà phê nhượng quyền trên cả nước và 8 quán ở nước ngoài như: Mĩ, Nhật, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia, Ba Lan, Ukraina. Sản phẩm cà phê Trung Nguyên và cà phê hòa tan G7 đã được xuất khẩu đến 43 Quốc Gia trên thế giới với các thị trường trọng điểm như Mĩ, Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Nguyên cũng đã xây dựng được một hệ thống hơn 1000 cửa hàng tiện lợi và trung tâm phân phối G7Mart trên toàn quốc.
Lịch sử hình thành và phát triển:

- 16/06/1996: Khởi nghiệp ở Buôn Ma Thuột (Sản xuất và kinh doanh trà, cà phê).

- 1998:Trung Nguyên xuất hiện ở TP.HCM bằng khẩu hiệu "Mang lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới” và con số 100 quán cà phê Trung Nguyên.

- 2000: Đánh dấu sự phát triển bằng sự hiện diện tại Hà Nội và lần đầu tiên nhượng quyền thương hiệu đến Nhật Bản.

- 2001: Trung Nguyên có mặt trên khắp toàn quốc và tiếp tục nhượng quyền tại Singapore và tiếp theo là Campuchia, Thái Lan.

- 2002: Sản phẩm Trà Tiên ra đời.

- 2003: Ra đời cà phê hòa tan G7 và xuất khẩu G7 đến các quốc gia phát triển.

- 2004: Mở thêm quán cà phê Trung Nguyên tại Nhật Bản, mạng lưới 600 quán cà phê tại VN, 121 nhà phân phối, 7000 điểm bán hàng và 59,000 cửa hàng bán lẻ sản phẩm.

- 2005: Khánh thành nhà máy rang xay tại Buôn Ma Thuột và nhà máy cà phê hòa tan lớn nhất Việt Nam tại Bình Dương với công suất rang xay là 10,000tấn/năm và cà phê hòa tan là 3,000tấn/năm. Đạt chứng nhận EUREPGAP (Thực hành nông nghiệp tốt và Chất lượng cà phê ngon) của thế giới. Chính thức khai trương khu du lịch văn hóa Trà Tiên Phong Quán tại Lâm Đồng. Phát triển hệ thống quán cà phê lên đến con số 1.000 quán cà phê và sự hiện diện của nhượng quyền quốc tế bằng các quán cà phê Trung Nguyên tại các nước Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc, Ucarine, Mỹ, Ba Lan.

- 2006: Đầu tư và xây dựng phát triển hệ thống phân phối G7Mart lớn nhất Việt Nam và xây dựng, chuẩn hóa hệ thống nhượng quyền trong nước, đẩy mạnh phát triển nhượng quyền ở quốc tế. Ra mắt công ty liên doanh Vietnam Global Gateway (VGG) có trụ sở đặt tại Singapore.

- Ngày 28.3.2012, Trung Nguyên chính thức khánh thành nhà máy cà phê G7 thứ hai tại Bắc Giang (KCN Quang Châu-Việt Yên).
Các thành tựu

- Huân chương lao động Hạng III do Chủ Tịch nước trao tặng năm 2007.

- Bằng khen của Thủ tướng chính phủ cho doanh nghiệp "Đã có thành tích nhiều năm liền được bình chọn danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao, góp phần vào sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc” năm 2007.

- Được người tiêu dùng bình chọn là sản phẩm đứng đầu ngành thức uống không cồn trong cuộc bình chọn HVNCLC 2007 do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức.

- 8 năm liền đạt danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao (2000 - 2007).

- Giải thương hiệu nổi tiếng Việt Nam năm 2006 do Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam cấp.

- Giải thương hiệu mạnh Việt Nam năm 2006 do Thời báo Kinh tế Việt Nam phối hợp Cục xúc tiến thương mại (Bộ thương mại) tổ chức.

- Là doanh nghiệp cà phê duy nhất của Việt Nam đạt chứng chỉ EUREPGAP về Thực hành nộng nghiệp tốt và chất lượng cà phê ngon (do Institude for Marketecology cấp năm 2005).

- Giải thương hiệu hàng đầu Việt Nam năm 2004 do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức.

- Giải thưởng nhà doanh nghiệp trẻ xuất sắc nhất ASEAN năm 2004 do Hiệp hội các nhà doanh nghiệp Đông Nam Á trao tặng.

- Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt năm 2003 và 2005 do Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam trao tặng.

- Huân chương lao động hạng III do Chủ tịch nước trao tặng năm 2003.

- Tổng Giám Đốc Đặng Lê Nguyên Vũ được trao tặng giải thưởng Sao Đỏ năm 2000 của Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam.

.... vẫn còn rất nhiều điều thú vị đằng sau mỗi ly cafe Trung Nguyên....

Trung Nguyên.. họ đã chinh phục cả thế giới cafe ra sao??

Gây ấn tượng mạnh từ lần đầu tiên xuất hiện với một quán cà phê nhỏ ở vùng ngoại ô, chỉ sau một thời gian rất ngắn, Trung Nguyên nhanh chóng chiếm giữ các vị trí trung tâm của trung tâm TP.HCM trước khi tiến thẳng ra Thủ đô Hà Nội và thống lĩnh toàn thị trường Việt Nam. Không dừng lại, Trung Nguyên hiện diện tại Nhật Bản rồi Singapore, từng bước chinh phục thị trường Thế giới, và tạo dựng những không gian thưởng thức cà phê mang nét đẹp văn hóa đậm tinh thần sáng tạo của cà phê.






Trải nghiệm quán cà phê “di sản” của Trung Nguyên





Cú đột phá từ quán cà phê đầu tiên


Khi “Hãng cà phê Trung Nguyên” thành lập tại Buôn Ma Thuột - Thủ Phủ cà phê Việt Nam, nhiều tiếng cười nhạo “hãng” cà phê ọp ép đó. Không ai ngờ rằng, chỉ 2 năm sau, Trung Nguyên vượt khỏi tỉnh Đắk Lắk. Cuộc tấn công đầu tiên nhắm thẳng vào thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế sôi động hàng đầu Việt Nam, với sự kiện lịch sử khai trương quán cà phê Trung Nguyên đầu tiên tại số 587 Nguyễn Kiệm (Phú Nhuận) vào ngày 20/08/1998.

Theo nhiều bậc cao niên ở Hồ Chí Minh, Trung Nguyên đã tạo cú đột phá ngoạn mục đối với dân ghiền cà phê vào thời điểm đó: quán cà phê đầu tiên phục vụ miễn phí trong suốt 10 ngày. Sau này, khi nhớ về quãng thời gian đó, nhà sáng lập Đặng Lê Nguyên Vũ chia sẻ: “quán đông nghịt khách suốt ngày đêm, chúng tôi phục vụ liên tục đến nỗi nói không ra tiếng mà lòng vui không tả xiết.”

Từ quán cà phê đầu tiên đó, Trung Nguyên đã được định hình là quán cà phê đối chứng, nơi khách hàng vừa mua hàng, vừa uống cà phê đối chứng chất lượng với rất nhiều loại sản phẩm, và được hướng dẫn cách thưởng thức cà phê “theo kiểu Trung Nguyên”. Đây là điểm khác biệt, độc đáo nhất của Trung Nguyên đối với tất cả quán cà phê lúc bấy giờ, gây ấn tượng sâu sắc với khách hàng.

Đến hành trình chinh phục Thế giới


Không dừng lại ở đó, Trung Nguyên hoạch định chiến lược phát triển với những bước đi vững chắc từ nông thôn ra thành thị, từ ngoại ô đến trung tâm, từ nội địa ra quốc tế. Bất kể xuất hiện ở đâu, Trung Nguyên đều mang lại một không gian cà phê khác biệt, tạo sức hút mạnh mẽ với dân ghiền cà phê, trở thành thương hiệu cà phê yêu thích.

Giai đoạn đầu, bằng mô hình nhượng quyền lần đầu tiên ứng dụng tại Việt Nam, những quán cà phê Trung Nguyên xuất hiện ngày càng nhiều với cam kết ly cà phê có chất lượng số 1. Đồng thời, theo phương thức “tam giác chiến lược” - bộ ba quán cà phê gần nhau, Trung Nguyên đảm bảo sự đồng nhất về thiết kế, phục vụ và chất lượng cho tất cả các quán cà phê Trung Nguyên. Điều này giúp Trung Nguyên nhanh chóng tiến vào các điểm trung tâm đắc địa của thành phố Hồ Chí Minh như đường Lê Lợi, Đồng Khởi, Phạm Ngọc Thạch,…

Sau 2 năm phát triển thị trường thành phố Hồ Chí Minh, năm 2000 Trung Nguyên tiếp tục hành trình chinh phục, đánh dấu bằng việc xuất hiện tại Thủ đô Hà Nội và hơn 1,000 quán Trung Nguyên trên khắp cả nước.

Khát vọng đưa Việt Nam tham gia nền văn hóa cà phê thế giới, năm 2003 Trung Nguyên chính thức hiện diện tại Roppongi (một quận xa hoa nhất ở trung tâm Tokyo, Nhật Bản) - với ly cà phê có giá cao hơn ly cà phê Starbucks, thương hiệu cà phê “khổng lồ” của Thế giới lúc bấy giờ(!) Đây cũng là lần đầu tiên thương hiệu Việt Nam nhượng quyền ra nước ngoài.

Từ Nhật Bản, Trung Nguyên tiếp tục “lấn sân” Singapore - thiên đường mua sắm Châu Á, tại các vị trí đắc địa nhất như resort Marina Bay Sands, cao ốc Liang Court, khu mua sắm phức hợp Katong Mall,… Hiện nay, Trung Nguyên định hướng lấy Asian làm thị trường nội địa với Singapore là trung tâm bệ phóng, và trong thời gian tới sẽ xuất hiện tại Dubai, Mỹ,…

Những bước đi vững chắc của Trung Nguyên sẽ góp phần thay đổi văn hóa cà phê thế giới và đem lại niềm tin về sự thay đổi vị thế thương hiệu cà phê Việt Nam trên thế giới, cũng như đem lại giá trị đích thực, xứng đáng cho ngành cà phê nước ta.

“Di sản” cho sự phát triển bền vững

Đến nay, không gian cà phê Trung Nguyên đầu tiên vẫn duy trì hoạt động và đang chuẩn bị giới thiệu diện mạo hoàn toàn mới - như một “di sản”, một “nhân chứng lịch sử” cho sự phát triển không ngừng của cà phê Trung Nguyên.

Sau chiến lược mở rộng và phủ khắp, Trung Nguyên tập trung vào tính chuyên gia và chuyên sâu, cam kết chất lượng ly cà phê ngon và đồng nhất cho khách hàng do chính các chuyên gia Trung Nguyên pha chế bằng tất cả niềm đam mê và am hiểu cà phê. Đặc biệt, Trung Nguyên đầu tư nghiên cứu và phát triển quán cà phê trở thành không gian sáng tạo, không gian văn hóa, tạo nên sự khác biệt của không gian cà phê Trung Nguyên.

Những chương trình sinh hoạt, giao lưu, tọa đàm về văn hóa, khoa học, nghệ thuật… đều chọn không gian cà phê Trung Nguyên như một điểm kết nối. Bên cạnh đó, các hoạt động của Cà Phê Thứ Bảy, Không gian Sáng tạo Trung Nguyên đã trở thành nơi hội tụ của giới trí thức, văn nghệ sĩ, những người yêu sáng tạo trong nước và quốc tế. Hơn nữa, không gian cà phê Trung Nguyên còn là chuỗi không gian duy nhất được chọn để tiếp đón các đoàn Đại sứ ngoại giao, Hoa hậu Trái đất,… và cũng là nơi khám phá và trải nghiệm văn hóa Việt Nam của hàng trăm đoàn sinh viên quốc tế.

Cùng với mô hình không gian cà phê Trung Nguyên, mô hình Brain Station, Làng Cà Phê Trung Nguyên là “quán cà phê lớn nhất thế giới” được Trung Nguyên xây dựng như một điểm nhấn quan trọng tại Thủ phủ cà phê Buôn Ma Thuột, trung tâm dự án xây dựng Đắk Lắk thành Thánh địa cà phê toàn cầu. Thu hút hơn 43,000 lượt khách mỗi tháng, và đang chuẩn bị đón vị khách thứ 2 triệu, Làng cà phê Trung Nguyên là điểm đến hấp dẫn, thú vị cho những ai yêu cà phê, thích sáng tạo và khám phá văn hóa. Ông José Sette - Cựu Chủ tịch Cà phê Thế giới đã chia sẻ: “Tôi đã tham gia ngành cà phê hơn 30 năm và hơn 4 năm với vị trí Chủ tịch tổ chức Cà phê Thế giới - nhưng đây là lần đầu tiên tôi tận hưởng không gian đúng với tinh thần sáng tạo của cà phê”.

Từ quán cà phê nhỏ bé ở vùng ngoại ô, Trung Nguyên đã làm nên những điều tưởng chừng như không thể: khẳng định vị trí số 1 bằng chất lượng cà phê tuyệt hảo, thống lĩnh toàn thị trường cà phê Việt Nam và tiếp tục chinh phục Thế giới. Bằng những thành quả đạt được cùng những kế hoạch, dự án đang thực hiện, khẳng định một lối đi riêng, mang đậm bản sắc văn hóa độc đáo, Trung Nguyên đã, đang và sẽ mang lại nguồn cảm hứng sáng tạo đột phá cho bất cứ ai khi đến với không gian cà phê đẳng cấp và tinh tế này.

//..... hãy cùng tìm hiểu xem a Vũ sẽ làm gì tiếp theo để đưa Trung Nguyên vươn ra xa hơn nữa...






Lịch sử hãng Lamborghini – Phần 3 – Murciélago và những phiên bản từng được sản xuất


Từ khi rời khỏi tay người sáng lập Ferruccio Lamborghini, thương hiệu Bò tót Lamborghini đã trải qua bao năm tháng thăng trầm với biết bao sự cống hiến, hy sinh của những người tiếp nối nhưng mọi thứ vẫn không tốt hơn…

Vẻ đẹp thuần khiết của Lamborghini Murciélago Roadster

Chính những thăng trầm mà thương hiệu Lamborghini vì đó có thêm nhiều nét văn hóa trong lịch sử của mình. Đến cuối cùng, bao năm tháng khó khăn cũng trôi qua và cơ duyên đầy may mắn khi Lamborghini gặp gỡ Audi AG.

Mối liên kết này đã không bị phá vở kể từ ngày 04.08.1998 cho đến hiện tại, Audi AG đã tiếp nối những thành công cũng như khó khăn để dẫn dắt Lamborghini đi đúng đường, cùng một chút may mắn!

Được nắm quyền dưới một Audi mạnh mẽ, một trong 3 nhà sản xuất ô tô lớn nhất tại Đức, bên cạnh Mercedes-Benz và BMW nhưng truyền thống của Lamborghini kể từ khi Ferruccio Lamborghini tạo dựng vẫn được Audi duy trì và tạo nên một thương hiệu Lamborghini danh tiếng như ngày nay.

Trong bài viết bày, Tinoto sẽ cùng bạn tìm hiểu về thương hiệu Bò tót Lamborghini khi được nối tiếp bởi Audi AG và dòng Murciélago chính là đánh dấu bước phát triển mới của Lamborghini khi Audi AG nắm quyền.

Lamborghini Murciélago – Bước khởi đầu của Audi AG

Lamborghini Murciélago được sản xuất từ năm 2001-2010 và là dòng kế nhiệm của Diablo. Murciélago giới thiệu lần đầu tiên vào năm 2001 và bắt đầu có mặt tại thị trường Bắc Mỹ vào năm 2002.

Murciélago là dòng đầu tiên tồn tại trong 10 năm của Lamborghini và cũng là mẫu đầu tiên được thiết kế khi thuộc về Audi AG. Murciélago thiết kế theo ý tưởng của Peruvian-born Belgian Luc Donckerwolke, trưởng bộ phận thiết kế của Lamborghini từ năm 1998-2005.

Murciélago được đặt theo tên một con bò đực sống sót sau trận chiến với 24 vết đâm từ thanh kiếm của dũng sĩ đấu bò Rafael “El Lagartijo” Molina Sánchez vào năm 1879 tại đấu trường Coso de los califas ở Córdoba, Tây Ban Nha. Con Bò Murciélago đã chiến đấu với tất cả sự dũng cảm và tinh thần của một dung sĩ đấu bò để dành lại sự sống của mình.

Sau đó, con bò Murciélago đã được lai tạo để cho ra giống bò Miura nổi tiếng và Miura là cái tên của một trong những thiết kế vĩ đại nhất của Lamborghini vào năm 1966.


Lamborghini Murciélago với hệ thống dẫn động 4 bánh, động cơ V12 đặt giữa, dung tích 6.2L cho công suất 572 mã lực và mô-men xoắn 650 Nm. Với sức mạnh này, Murciélago tăng tốc từ 0-100 km/h chỉ trong 3.6 giây. Tốc độ tối đa đạt 330km/h.


Hốc gió rất hầm hố được tích hợp hai bên, có thể điều chỉnh điện và nó sẽ tự động bật khi ở tốc độ cao để tăng tính khí động học và hiệu quả làm mát động cơ

Thiết kế của dòng Murciélago khá mềm mại nhưng rất hầm hố. Sở hữu trọng tâm cự kỳ thấp, điểm cao nhất tính từ mui xe đến mặt đất chỉ có 1.2m. Một trong những đặc điểm khác biệt nhất của Murciélago chính là kiểu cửa cắt kéo tuyệt đẹp thừa kế từ Diablo.


Murciélago là mẫu xe đầu tiên của Lamborghini được thiết kế phá cách với cụm ống xả đặt ở trung tâm phía sau


Murciélago được sản xuất từ năm 2001-2006 với giá khoảng 280.000 USD. Sức mạnh 572 mã lực từ động cơ V12 được truyền đến hệ thống dẫn động thông qua hộp số tay 6 cấp.

Thân xe được chế tạo bằng sợi carbon, thép và các bộ phận khác được chế tạo từ nhôm. Trọng lượng 1.800 kg


Cần chuyển số mạ crôm với 5 cấp

Cốp để đồ phía trước

Động cơ V12, dung tích 6.2L cho công suất 572 mã lực của Murciélago

Các mẫu tiếp theo của dòng Murciélago được ra đời là:

Murciélago Roadster (2004)
Murciélago LP 640 (2006)
Murciélago LP 640 Roadster (2006)
Murciélago LP 670-4 SuperVeloce (2009-2010)

và một số phiên bản sản xuất giới hạn như 40th Anniversary Edition, LP 640 Versace, LP 650-4 Roadster…

Tiếp theo bài viết, tinoto sẽ giới thiệu một số mẫu nổi bật trong dòng Murciélago như Murciélago Roadster | Murciélago LP640 Roadster và mẫu cuối cùng của dòng Murciélago, Lamborghini Murciélago LP 670-4 SuperVeloce.

1. Lamborghini Murciélago Roadster (2004)

Phiên bản mui trần của Murciélago được giới thiệu vào năm 2004. Murciélago Roadster vẫn trang bị động cơ V12, dung tích 6.2L cho công suất 572 mã lực tại 7.500 vòng/phút và mô-men xoắn 650 Nm tại 5.400 vòng/phút như Murciélago nhưng thời gian tăng tốc từ 0-100 km/h đến 3.8 giây. Tốc độ tối đa 320 km/h. Hộp số tay 6 cấp với tùy chọn tay chuyển số tích hợp trên vô-lăng.

Lamborghini Murciélago Roadster được bán với giá khoảng 319.000 USD.


Thiết kế tổng thể của Murciélago Roadster không có nhiều thay đổi so với Murciélago bản Coupe


Điểm khác biệt lớn nhất chính là phần mui. Điều chắc chắn khi bạn tậu một chiếc mui trần bạn sẽ thích lái nó với mui trần hơn là lắp mui lại để hòa với thiên nhiên và cảm nhận tốc độ trên 300 km/h của chiếc mui trần mang thương hiệu Bò tót sẽ thú vị như thế nào! nên vì đó mà phần mui của Murciélago Roadster chỉ được Lamborghini trang bị mui mềm và tháo lắp bằng tay. Tốc độ tối đa khi gắn mui bị hạn chế xuống còn 160 km/h.


Không đẹp và mạnh mẽ cho lắm khi gắn mui mềm nhưng cũng rất quyến rũ! Phần mui khi không sử dụng sẽ được cất ở cốp phía trước xe


Murciélago Roadster sở hữu nắp khoang động cơ rất hầm hố và tuyệt đẹp! Bạn sẽ ngạc nhiên khi biết nó được thiết kế như thế nào… Để thiết kế phần nắp khoang động cơ này, các kỹ sư của Lamborghini đã tập hợp các cảm hứng lấy từ máy bay ném bom tàng hình B-2, du thuyền Wally Power 118 và công trình kiến trúc đầy nghệ thuật Ciutat de les Arts i les Ciències của kiến trúc sư Santiago Calatrava tại Valencia, Tây Ban Nha và đảm bảo một cấu trúc cứng vững cho phần mui trần này.


Phong cách phối màu truyền thống của Lamborghini là nội thất với màu đen chủ đạo kết hợp với màu của ngoại thất

Động cơ V12, dung tích 6.2L cho công suất 572 mã lực của Murciélago Roadster

2. Lamborghini Murciélago LP640 Roadster (2006)

Lamborghini Murciélago LP 640 Roadster được phát triển từ Murciélago LP 640 bản Coupe, ra mắt lần đầu tiên tại triển lãm Los Angeles Auto Show vào năm 2006.

Phần ngoại thất của LP 640 Roadster đã thay đổi rất nhiều so với bản Coupe. Nội thất cũng với nhiều thay đổi; chỗ ngồi thiết kế lại để tạo khoảng trống cabin lớn hơn. Hệ thống âm thanh mới và bảng điều khiển cũng được nâng cấp. Một số thiết bị tùy chọn dành cho LP640 Roadster gồm hệ thống phanh chế tạo bằng carbon, cần chuyển số tích hợp trên vô-lăng mạ crôm… Trọng lượng của LP640 Roadster ở mức 1.864 kg


LP là viết tắc của Longitudinale Posteriore; chỉ động cơ đặt ở phía sau, theo chiều dọc trong tiếng Ý, (còn vị trí động cơ trên xe chính xác là đặt giữa, các siêu xe đa số động cơ được bố trí đặt giữa để cân bằng trọng lượng).

Sức mạnh của LP640 Roadster được cung cấp từ động cơ V12, dung tích 6.5L cho công suất 631 mã lực (640 PS) tại 8.000 vòng/phút và mô-men xoắn 660 Nm tại 6.000 vòng/phút. Tăng tốc từ 0-100 km/h chỉ trong 3.5 giây (bản Coupe là 3.2 giây). Tốc độ tối đa 330 km/h (thấp hơn bản Coupe 10 km/h).

Lamborghini LP640 Roadster được bán với giá khoảng 388.000 USD


Hốc gió rất hầm hố được tích hợp hai bên, có thể điều chỉnh điện và nó sẽ tự động bật khi ở tốc độ cao để tăng tính khí động học và hiệu quả làm mát động cơ


Đến mẫu Murciélago LP640 thì ống xả hình lục giác đã xuất hiện, rất ngầu và mạnh mẽ


Nắp động cơ của dòng Murciélago mui trần được thiết kế rất kỳ công, rất sang trọng và cuốn hút


Mui mềm khi không sử dụng sẽ được cất ở cốp trước

Động cơ V12, dung tích 6.5L cho công suất 631 mã lực của LP640 Roadster

Thông tin và số VIN (Vehicle Identification Number) về mỗi chiếc xe khi xuất xưởng.

Hiện tại, ở Việt Nam cũng có duy nhất một chiếc Murciélago LP640 Roadster màu vàng.

3. Lamborghini Murciélago LP 670-4 SuperVeloce (2009-2010)

Tại triển lãm Geneva Motor Show vào năm 2009. Lamborghini đã ra mắt mẫu cuối cùng của dòng Murciélago, Lamborghini Murciélago LP 670-4 SuperVeloce. SuperVeloce có nghĩa là “siêu nhanh” trong tiếng Ý, viết tắt là SV, trước đó đã xuất hiện trên dòng Diablo và Miura.

Kế hoạch sản xuất giới hạn ban đầu của Murciélago LP 670-4 SV ở con số 350 chiếc và được bán với giá khoảng 457.000 USD vào năm 2009. Tuy nhiên, chỉ 186 chiếc LP 670-4 SV được xuất xưởng khi phải nhường dây chuyền sản xuất cho mẫu kế vị Aventador. Điều thú vị là những chiếc LP 670-4 SV đã xuất xưởng được đánh số từ 1-350 không đại diện cho thứ tự xuất xưởng của nó.

Vòng đời của Murciélago kết thúc vào ngày 05.11.2010 với tổng cộng 4.099 chiếc và mẫu kế vị của nó chính là Lamborghini Aventador, giới thiệu lần đầu tại triển lãm Geneva Motor Show vào năm 2011.

Lamborghini Murciélago LP 670-4 SuperVeloce duy nhất tại Việt Nam, được nhập về vào tháng 11.2010

Động cơ V12, dung tích 6.5L của LP 670-4 SV cho công suất 661 mã lực (670 PS) tại 8.000 vòng/phút và mô-men xoắn 660 Nm tại 6.500 vòng/phút. Với sức mạnh này, LP 670-4 SV dễ dàng tăng tốc từ 0-100 km/h trong 3.0 giây. 0-200 km/h chỉ 9.9 giây. Tốc độ tối đa 342 km/h khi trang bị cánh gió tùy chọn loại nhỏ và 336 km/h với cánh gió Aeropack tiêu chuẩn.

LP 670-4 SV được nhập về Việt Nam mang số thứ tự 46 và ấn tượng hơn khi biển số xe cũng là 4646

Trọng lượng của LP 670-4 SV cũng giảm trên 130 kg so với trọng lượng 1.800 kg của Murciélago với rất nhiều các chi tiết chế tạo bằng sợi carbon ở ngoại thất và nội thất. Hệ thống ống xả mới nhẹ hơn cũng được tích hợp nên trọng lượng của LP 670-4 SV chỉ ở mức 1.664 kg


LP 670-4 SV với hệ dẫn động 4 bánh, hộp số 6 cấp và bình nhiên liệu có dung tích 100L


Cánh gió sau thuộc bản tiêu chuẩn nên tốc độ tối đa của LP 670-4 SV ở Việt Nam là 336 km/h


Động cơ V12, dung tích 6.5L cho công suất 661 mã lực của LP 670-4 SV

Được tạo bởi Blogger.

nhiều người đọc