Lịch sử của Audi (Phần 1)
Auto Union GmbH và NSU sáp nhập vào năm 1969 để thành lập Audi NSU Auto Union AG. Năm 1985, công ty đổi tên thành Audi AG và trụ sở chính được chuyển về Ingolstadt. Biểu tượng 4 vong tròn đan xen vào nhau vẫn được sử dụng làm biểu trưng của Audi cho đến ngày nay.
Horch
Năm 1909, sau những bất đồng với Ban giám đốc và Hội đồng quản trị, August Horch rời khỏi công ty mình đã tạo dưng và nhanh chóng thành lập một công ty ô tô khác tại Zwickau. Do tên của ông đã được đặt cho công ty trước và nó đã được đăng ký thương hiệu nên ông phải đặt tên mới cho công ty bằng cách dịch tên mình ra ngôn ngữ khác. Tên của ông có nghĩa là “hark” trong tiếng Đức (có nghĩa là “nghe” ) và trong tiếng La tinh là Audi.
August Horch chuyển tới Berlin vào những năm 1920 và được bầu vào làm thành viên Hội đồng quản trị của Auto Union AG vào năm 1932. Tại đây, ông tiếp tục phụ trách việc phát triển công nghệ kỹ thuật mới. Horch sống những năm cuối đời tại Munchberg, Upper Franconia và ông mất năm 1951 thọ 83 tuổi.
Công ty vẫn giữ tên Horch cho một số mẫu xe sử dụng cấu trúc do Horch phát minh ra. Sau thế chiến thứ I, công ty sản suất động cơ máy bay Argus-Werke nắm giữ phần lớn cổ phần trong Horch. Hai trong số những kỹ sư giỏi nhất là Arnold Zoller và sau này là Paul Daimler, con trai của Gottlieb Daimler, được đưa lên phụ trách hoạt động của công ty Horch-Werke tại Zwickau.
Mùa thu năm 1926, Horch-Werke cho ra mắt mẫu xe mới, chiếc Horch 8, sử dụng động cơ 8 xylanh thẳng hàng do Paul Dainler phát minh. Động cơ này nổi bật nhờ sự ổn định và sức mạnh của nó, và vạch ra một tiêu chuẩn mà tất cả các đối thủ cạnh tranh khác luôn tìm cách cạnh tranh. Chiếc Horch 8 trở thành biểu tượng của sự sang trọng, tinh tế và cao cấp trong ngành công nghiệp ô tô.
Năm 1931, Horch-Werke giới thiệu mẫu xe mới nhất của mình tại triển lãm ô tô Paris, một chiếc mui trần sử dụng động cơ 12 xylanh với màu sơn vàng, mui mềm màu nâu và nội thất được phủ màu xanh lá. Từ năm 1932 đến 1934, chỉ có 80 chiếc mui trần này được bán ra do thị trường xe siêu sang đang trong thời kỳ ế ẩm. Horch là hãng dẫn đầu phân khúc xe hạng sang và doanh số của hãng cao hơn 1/3 so với các đối thủ; ví dụ như năm 1932, Horch bán được 773 xe tại thị trường Đức và xuất khẩu được 300 xe. Tuy nhiên, điều này vẫn không đủ. Công ty gặp phải những khó khăn về tài chính, chủ yếu là do các hoạt động kinh doanh kém hiệu quả.
Audi
Ngay sau khi rời khỏi công ty Horch-Werke năm 1909, Horch nhanh chóng thành lập một công ty sản xuất ô tô khác. Do không được quyền sử dụng tên của mình nên Horch đã dịch nó ra tiếng La tinh là Audi (có nghĩa là “nghe” ). Năm 1910, những chiếc xe đầu tiên sử dụng thương hiệu Audi xuất hiện trên thị trường. Chúng nhanh chóng đạt được những thành công liên tiếp từ năm 1912 đến 1914 trong cuộc đua International Austrian Alpine Run, một trong những cuộc đua đường trường khắc nghiệt nhất thế giới. Sau Thế chiến thứ I, Audi trở thành hãng đầu tiên đặt vô lăng sang bên trái và chuyển hộp số vào giữa. Điều này cho phép việc điều khiển xe trở nên sễ dàng hơn.
Năm 1923, mẫu xe sử dụng động cơ 6 xylanh đầu tiên của Audi được ra mắt. Chiếc xe này có một máy làm sạch không khí bằng dầu và trở thành một tính năng đặc biệt vào thời đó. Phải mất nhiều năm sau máy làm sạch không khí mới trở thành trang bị tiêu chuẩn trên tất cả các xe. Chiếc Audi này cũng là mẫu xe đầu tiên tại Đức sử dụng hệ thống phanh thủy lực ở cả 4 bánh do chính công ty nghiên cứu và phát triển. Năm 1927, kĩ sư trường Heinrich Schuh cho ra đời mẫu xe sử dụng động cơ 8 xylanh đầu tiên của Audi. Thật không may là chiếc xe này xuất hiện quá trễ khi mà thị trường xe hạng sang đang rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. năm 1928, công ty được Jorgen Skaffe Rasmussen, một nhân tố quan trọng đằng sau sự thành công của DKW, mua lại.
DKW
Jorgen Skaffe Ramussen, một người sinh tại Đan Mạch, thành lập công ty đầu tiên của mình tại Saxony sau khi lấy bằng kỹ sư tại Mittweida. Năm 1904, ông thành lập một công ty kỹ thuật tại Chemnitz và 3 năm sau chuyển đến Zschopau, Erzgebirge, nơi ông bắt đầu nghiên cứu xe chạy bằng động cơ hơi nước năm 1916. Mặc dù những thí nghiệm này không tạo ra một sản phẩm nào nhưng nó đã giúp hình thành tên và thương hiệu DKW của công ty. DKW trong tiếng Đức là “Dampf Fraft Wagen” có nghĩa là xe sử dụng động cơ hơi nước.
Năm 1919, Rasmussen mua mẫu thiết kế động cơ 2 kỳ của Hugo Ruppe. Một phiên bản nhỏ của động cơ này được bán dưới dạng động cơ đồ chơi với tên gọi “The Boy’s Dream”. Động cơ nhỏ này sau đó được phát triển lớn hơn và được sử dụng như một động cơ phụ. Dưới sự điều hành của Rasmussen (cùng với giám đốc Kleine Wunder và kĩ sư trưởng Hernann Weber), DKW trở thành hãng sản xuất ô tô lớn nhất thế giới vào những năm 1920 và cũng là một trong những nhà sản xuất đông cơ ô tô hàng đầu.
Năm 1927, Rasmussen mua lại thiết kế và cơ sở sản xuất động cơ 6 và 8 xylanh từ một công ty ô tô ở Detroit. Hai mẫu xe mới của Audi sử dụng 2 động cơ này được tung ra thị trường. Tuy nhiên, Rasmussen nhận thấy nhu cầu của thị trường và bắt tay vào sản xuất nhửng chiếc xe nhỏ. Chiếc xe thật sự đầu tiên của DKW sử dụng hệ thống dẫn động bánh sau và được sản xuất tại Berlin-Spandau. Cuối năm 1930, Rasmussen giao cho nhà máy tại Zwickau phát triển một mẫu xe với với những đặc điểm thiết kế như: động cơ 2 xylanh, 2 kỳ với dung tích 600 cc, chassis bằng gỗ nguyên khối bọc da giả và sử dụng hệ thống dẫn động bánh trước. Chiếc xe này được thiết kế bởi Walter haustein và Oskar Arlt và có tên là DKW Front. Nó được giới thiệu lần đầu tiên tại triển lãm ô tô Berlin năm 1931 và nhanh chóng chiếm được cảm tình của khách hàng. Chiếc DKW Front được sản xuất tại nhà máy của Audi và trở thành chiếc xe nhỏ của Đức phổ biến nhất và được sản xuất nhiều nhất vào thời điểm đó.
Wanderer
Cái tên “Wanderer” có nguồn gốc từ năm 1896, khi tiếng tăm của nó đi kèm với những chiếc xe đạp được sản xuất bởi Winklhofer & Jaenicke, một công ty được thành lập năm 1885 tại Chemnitz. Việc sản xuất ô tô được bắt đầu vào năm 1902 và chiếc xe đầu tiên được sản xuất thử vào năm 1904. Một chiếc xe nhỏ có tên là “Puppchen” được đưa vào sản xuất đại trà năm 1913 và trở nên rất phổ biến. Không mẫu xe nào có hiệu suất cao hơn được sản xuất mãi đến năm 1926 khi chiếc Wanderer Type W 10 với động cơ dung tích 1.5 lít công suất 30 mã lực được giới thiệu ra thị trường. Chiếc xe này kết hợp tất cả những công nghệ kỹ thuật hiện đại nhất trong ngành công nghiệp ô tô thế giới lúc bấy giờ, ví dụ như vô lăng bên trái, hộp số đặt ở giữa, khớp ly hợp gồm nhiều tấm kim loại, động cơ và hộp số nguyên khối và hệ thống phanh 4 bánh. Chiếc xe này được khách hàng đón nhận nồng nhiệt.
Để đáp ứng được nhu cầu tăng cao, một nhà máy sản xuất mới được xây dựng tại Siegmar, ngoại ô của Chemnitz. Phụ tùng của xe vẫn được sản xuất tại nhà máy cũ và được chuyển đến nhà máy lắp ráp bằng xe lửa. Những phụ tùng này được đổ từ toa xe lửa xuống thẳng dây chuyền lắp ráp, một phương thức được sử dụng phổ biến trong những năm 1920. Nhà máy tại Siegmar chỉ có thể chứa được số lượng phụ tùng đủ lắp ráp 25 chiếc xe – bằng sản lượng hằng ngày của nhà máy.
Hình ảnh thương hiệu của Wanderer gắn liền với sự ổn định và chất lượng vượt trội của các sản phẩm của mình. Đến cuối những năm 1920, Wanderer cống gắng tránh cuộc khủng hoảng bẳng cách cho ra đời nhiều mẫu xe có thiết kế hiện đạt và động cơ mạnh mẽ. Tuy nhiên, bất chấp những thay đổi này, sản lượng của công ty giảm xuống rõ rệt. Hoạt động sản xuất ô tô của Wanderer đứng bên bờ vực thẳm. Toàn bộ phân nhánh sản xuất mô tô được bán cho NSU và một công ty của Séc là Janecek.
Auto Union AG
Do cuộc khủng hoảng trầm trọng trong ngành công nghiệp ô tô nên những năm 1920 là một thời kỳ để Audi, Horch, DKW và Wanderer hợp lý hóa công việc sản xuất của mình. Dây chuyền lắp ráp và các máy móc hiện đại có sản lượng tăng cao tuy nhiên việc sản xuất hàng loạt chi có thể diễn ra khi có thị trường có nhu cầu. Trong thời kỳ này việc tăng doanh số mua bán là điều vô vùng khó khăn và cuộc chiến về giá liên tục diễn ra do các đối thủ nước ngoài khai mào. Các công ty ô tô Đức cảm thấy không thể duy trì sản xuất nếu chỉ dựa vào lợi nhuận trên doanh số bán ra và do đó những nguồn tài chính khác là điều rất cần thiết
Tại Saxony, ngân hàng nhà nước Saxony không đáp ứng được nhu cầu vay tiền đầu tư của Horch-Werke và cũng “bịt” đường phát triển của Rasmussen Group. Ngân hàng này cuối cùng cũng quyết định củng cố lợi nhuận của mình trong lĩnh vực ô tô và ý tưởng về một Auto Union được ra đời. Các công ty sáp nhập là Rasmussen AG, lúc này đã sở hữu Audi-Werke AG, Horch-Werke AG và chi nhánh sản xuất ô tô của Wanderer-Werke. Tổng số vốn đầu tư của Auto Union là 14,5 triệu mác Đức và ngân hàng nhà nước Saxony kiểm soát 80% số vốn này.
Tạo dựng một công ty có tính cạnh tranh
Hình ảnh của Auto Union AG trên thị trường ô tô được tạo ra bởi 4 công ty sáng lập là Audi, DKW, Horch và Wanderer cùng với những sản phẩm của họ. Phải mất nhiều năm để có thể phát triển ý tưởng hợp tác lâu dài và áp dụng vào những công ty có truyền thống lâu đời này.
Sự phát triển
Năm 1933, tại triển lãm ô tô Đức mà Auto Union tham dự lần đầu tiên sau khi sáp nhập, Audi đã tạo nên sự đột phá với những chiếc xe cỡ trung bình sử dụng hệ thống dẫn động bánh trước. Tuy nhiên nó không đạt được thành công như mong đợi. Ý tưởng được thay đổi và vào năm 1938, chiếc Audi 920, một chiếc xe với thiết kế ngoại thất rất hiện đại sử dụng động cơ hiệu suất cao, được tung ra thị trường. Động cơ OHC mới được phát triển của xe có công suất 75 mã lực và có thể đạt tốc độ tối đa lên tới 140 km/h. Chiếc Audi này nhắm đến những khách hàng muốn một chiếc xe mạnh mẽ nhưng nhỏ gọn. Hệ thống dẫn động bánh trước sau đó được đổi thành bánh sau và chassis dạng ngiêng truyền thống được sử dụng thay cho chassis dạng hình hộp trung tâm. Chiếc xe có 2 mẫu là sedan 6 cửa sổ và mui trần 2 cửa với 4 cửa sổ. Nhu cầu cho chiếc Audi 920 cao đến nỗi trong hơn 1 năm, số lượng xe được sản xuất đều được bán hết ngay sau khi được trung ra thị trường.
Audi 920
Trong thời gian này, tiếng tăm của DKW chủ yếu dựa vào những mẫu xe mô tô của mình. Năm 1933, họ cho ra mắt mẫu xe với 8 phiên bản khác nhau sử dụng động cơ có dung tích từ 175 đến 600 cc. Một năm sau, chiếc RT 100 xuất hiện trên thị trường. Với sự đơn giản, thân xe thẳng và kết hợp được sức mạnh và tính kinh tế, nên nó đã tồn tại suốt vài thập kỷ và vạch ra những tiêu chuẩn mới cho những chiếc mô tô sau. Chiếc RT được bán với giá “không thể rẻ hơn” là 345 mác Đức và là một trong những mẫu xe được sản xuất nhiều nhất qua mọi thời đại.
DKW RT 100
Những chiếc xe ô tô nhỏ của DKW được sản xuất tại cả Berlin-Spandau (sử dụng hệ thống dẫn động bánh sau và động cơ V4 2 kỳ) và tại Zwickau (sử dụng hệ thống dẫn động bánh trước và động cơ 2 kỳ 2 xylanh). Tất cả động cơ được sản xuất tại Zschopau trong khi chassis bằng gỗ cho những chiếc xe sử dụng hệ thống dẫn động bánh trước được sản xuất tại Spandau.
Việc phát triển động cơ 2 kỳ được đặc biệt quan tâm. Auto Union đã có được giấy phép của Klöckner-Humboldt-Deutz để sử dụng phát minh của Schurle (nguyên lý xả ngược cho động cơ 2 kỳ) trên những mẫu động cơ nhỏ của mình. Lợi thế của nguyên tắc này là giúp động cơ giảm được mức nhiên liệu tiêu thụ trong khi vẫn nâng cao được hiệu suất.
Tối ưu hóa sản xuất
Những động cơ của Wanderer được tiêu chuẩn hóc và động cơ Horch V8 được thay thế bằng động cơ 6 xylanh thẳng hàng để đạt được hiệu suất cao hơn và ổn định hơn. Auto Union đã đạt được bước tiến lớn trong việc phát triển hộp số tự động và các kỹ sư của Auto Union đang tìm kiếm phương pháp mới để tạo hình và phát triển thiết kế ngoại thất.
Bộ phận thiết kế của công ty theo đuổi một ý tưởng ký động học hóa từ những chi tiết nhỏ nhất, sử dụng những phát minh về khí động lực của một chuyên gia Thụy Sĩ là Paul Jaray. Những đặc tính khí động học tối ưu được tính toán trước tiên theo lý thuyết sau đó được kiểm tra kỹ càng trong phòng thí nghiệm. Phiên bản thân xe sẵn sàng đưa vào sản xuất của DKW F9 có hệ số kéo ngang trước rất ấn tượng cD = 0.42. Đến các thập kỷ sau, đây vẫn là một con số lý tưởng cho các xe sản xuất tại Đức.
DKW F9
Do các cuộc chạy đua vũ trang nên sắt và cao su bị thiếu hụt nghiêm trọng, cộng với chassis xe bằng gỗ được bọc da quá đắt để sản xuất, Auto Union bắt đầu phát triển thử nghiệm thân xe bằng nhựa với sự hợp tác của Dynamit AG tại Troisdorf. Một chương trình thử nghiệm va chạm được phát triển để đánh giá độ bền của gỗ, tấm thép và nhựa. Đây là cuộc thử nghiệm va chạm đầu tiên trong lịch sử ngành công nghiệp ô tô Đức.
Các thử nghiệm về đâm xe từ phía trước, sau và bên hông hay lật xe đều được mô phỏng tại Phòng Kiểm tra trung tâm tại Chemnitz. Bộ phận kỹ thuật của nó sẽ kiểm tra tất cả các vấn đề liên quan đến chất liệu, phát triển hợp kim và phương pháp sản xuất đặc biệt, và kiểm tra sự tương thích kỹ thuật của tất cả các mẫu thiết kế mới. Bộ phận khoa học tập trung vào các mẫu động cơ trong tương lai, phát triển hộp số, nghiên cứu sự dao động và tiếng ồn, và chuẩn bị những cuộc kiểm tra phức tạp như vị trí của máy phóng trong các cuộc thử nghiệm va chạm. Bộ phận kiểm tra trên đường sẽ tiến hành các thử nghiệm thực tế hay các cuộc so sánh với các sản phẩm của đối thủ.
Auto Union đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng trong nhưng năm 1933-1939, doanh thu hàng năm tăng từ 65 lên 276 triệu mác Đức và số lượng công nhân tăng từ 8000 lên hơn 23.000 người. Sản lượng xe mô tô hằng năm tăng từ 12.000 lên 59.000 chiếc và xe ô tô là từ 17.000 lên 67.000 chiếc. So với năm mà Auto Union được thành lập, sản lượng ô tô của Horch đã tăng gấp đôi trong năm 1938, Wanderer tăng 5 lần và tổng sản lượng ô tô của DKW tăng 10 lần.
Chiến tranh và phá sản
Sự bùng nổ của Thế chiến thứ II đặt dấu chấm hết cho sự phát triển này. Auto Union AG sản xuất những chiếc xe dân sự cuối cùng vào năm 1940. Từ đó trở đi, công ty bị buộc phải tập trung công việc sản xuất để phục vụ chiến tranh.
Auto Union tồn tại được 16 năm. Trong 3 năm cuối cùng của mình, công ty chỉ chở đợi việc phá sản do 6 năm trước đó chiến trang đã khiến mọi hoạt động sản xuất ô tô của công ty bị tê liệt hoàn toàn. Những phát minh và sự thành công của Auto Union chỉ diễn ra trong vỏn vẹn 7 năm đầu thành lập. Sự sáng tạo và lành nghề của các kỹ sư tại đây được minh chứng bằng hơn 3000 bằng sáng chế được cấp tại Đức và những nơi khác. Cứ 4 chiếc xe chở người được đăng ký mới tại Đức trong năm 1938 thì có 1 chiếc do Auto Union sản xuất. Hơn 1/3 số xe môtô được đăng ký mới tại Đức là của DKW. Auto Union AG có rất nhiều phát minh, nghiên cứu và ý tưởng đóng vai trò tiên phong cho sự ra đời của những chiếc xe hiện đại.
Sau chiến tranh, các cơ sở sản xuất của Auto Union AG bị sung công và phá hủy do sự chiếm đóng của quân đội Sô Viết. năm 1948, công ty bị xóa tên khỏi sổ đăng ký kinh doanh tại thành phố Chemnitz. Trong thời gian này, những giám đốc cao cấp của công ty chuyển đến Bavaria và thành lập một công ty mới tại Ingolstadt.
(còn tiếp)
Mẫu Travel. Cung cấp bởi Blogger.


0 nhận xét:
Đăng nhận xét