Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015


Lịch sử hãng Ferrari – Phần 1 – Từ niềm đam mê vượt qua những thách thức


Ferrari S.p.A. là hãng sản xuất xe thể thao của Ý, được thành lập vào năm 1929 bởi Enzo Ferrari. Ferrari S.p.A. có tên thành lập lúc ban đầu là Scuderia Ferrari. S.p.A. là viết tắt của “Società per azioni” trong tiếng Ý có nghĩa là Công ty cổ phần.



Ngày nay, Ferrari là công ty con của tập đoàn FIAT, có trụ sở chính tại Maranello. Trong suốt lịch sử phát triển, Ferrari đã gắn liền với các cuộc đua, đặc biệt là ở đường đua Công thức 1. Cái tên Scuderia Ferrari của hãng lúc ban đầu giờ đây được dùng để đặt tên cho đội đua nổi tiếng trong F1; Scuderia Ferrari Marlboro.

Những chiếc xe mang thương hiệu Ferrari được xem như là một biểu tượng của tốc độ, sự sang trọng và giàu có.

Lịch sử hình thành

Enzo Anselmo Ferrari là một tay đua, một doanh nhân, là nhà sáng lập đội đua Scuderia Ferrari Grand Prix và sau đó đã thành lập hãng sản xuất xe mang thương hiệu Ferrari. Ông cũng có biệt danh là il Commendatore” hay “il Drake”.


Enzo Anselmo Ferrari (18.02.1898 – 14.08.1988)

Thời niên thiếu, Enzo Ferrari không được chỉ dẫn nhiều về xe nhưng ông có một khao khát mãnh liệt với những chiếc xe đua. Năm 1908, khi đó ông chỉ mới 10 tuổi, ông đã xem một trận đua đường vòng ở Bologna và ông quyết định mình phải trở thành một tay đua.

Trong thời kỳ Chiến tranh thế giới I, Enzo Ferrari được phân vào Sư đoàn 3 Pháo binh trên dãy núi An-pơ của quân đội Ý. Alfredo, cha của Enzo Ferrari và anh trai ông cũng tên là Alfredo đều qua đời vào năm 1916 do nạn dịch cúm bùng phát tại Ý.

Năm 1918, Enzo Ferrari cũng bị nhiễm dịch cúm rất nặng và do đó ông được cho xuất ngũ. Khi trở về nhà, ông thấy công ty của gia đình đã bị đổ nát.

Không có công việc triển vọng… Cuối cùng ông cũng tìm được việc làm ở một công ty với qui mô nhỏ có tên CMN (Costruzioni Meccaniche Nazionali), công việc của Enzo Ferrari là thiết kế lại phần thân của xe tải để chế tạo thành xe nhỏ chở khách. Năm 1919, ông tham gia vào đội đua CMN nhưng không mấy thành công.

Enzo Ferrari rời CMN vào năm 1920 để làm việc tại Alfa Romeo và ông đã thành công hơn với chiếc xe đua của họ ở cuộc đua địa phương. Thành công và thách thức đang chờ đợi trên con đường đam mê của Enzo Ferrari khi làm việc tại Alfa Romeo. Năm 1924, Ferrari đã giành chiến thắng tại giải đua Coppa Acerbo ở Pescara. Thành công ở giải đua địa phương nên ông được Alfa tạo cho nhiều cơ hội canh tranh ở các giải thi đấu tiềm năng khác. Ferrari tiếp tục làm việc cho hãng Alfa Romeo và đến năm 1929, ông thành lập đội đua Scuderia Ferrari, một đội đua riêng cho hãng Alfa.

Ferrari quản lý sự phát triển của các nhà máy sản xuất xe hơi Alfa và phát triển đội đua Scuderia Ferrari lên con số 40 người. Bao gồm cả tay đua Giuseppe Campari và Tazio Nuvolari. Ferrari tiếp tục sự nghiệp đua xe đến năm 1932.

Đội đua của hãng Auto Union (Audi AG ngày nay) và Mercedes đã thống trị đường đua ở giai đoạn này nhưng đội đua của Ferrari cũng đã giành được một chiến thắng quan trọng, khi tay đua Tazio Nuvolari đánh bại họ trên sân nhà tại giải Grand Prix diễn ra ở Đức vào năm 1935.

Năm 1937, Ferrari rời Alfa Romeo sau khi biết Alfa đang lên kế hoạch nắm quyền kiểm soát đội đua Scuderia Ferrari của ông. Do bị ràng buộc bởi các điều khoản trong hợp đồng nên ông không được đua xe và thiết kế xe trong 4 năm. Đáp lại sự ràng buộc này, Ferrari thành lập Auto Avio Costruzioni, một công ty cung cấp linh kiện cho các đội đua khác nhưng ông cũng có sản xuất 2 chiếc AAC Tipo 815 để đua giải Mille Miglia vào năm 1940.



Chiếc AAC Tipo 815 đời 1940, được cấp sức mạnh bởi động cơ V8 dung tích 1.5L



Cho đến nay, vẫn còn một chiếc Auto Avio Costruzioni Tipo 815 trong bộ sưu tập Righini, thuộc sở hữu của Mario Righini ở Ý.


Động cơ trên 815 cho công suất 72 mã lực tại vòng tua máy 5.500 vòng/phút. Tốc độ tối đa trên 170km/h. Trang bị hộp số tay 4 cấp và có trọng lượng 625 kg.

Trong suốt Thế chiến II, công ty bị buộc phải sản xuất phục vụ chiến tranh cho chế độ phát xít của Benito Mussolini. Năm 1943, Enzo Ferrari đã chuyển công ty từ Modena đến Maranello (trụ sở chính của Ferrari ngày nay). Nhà máy bị quân Đồng minh đánh bom vào năm 1944 và được xây dựng lại vào năm 1946. Khi Chiến tranh thế giới II kết thúc, Ferrari mới có thể bắt đầu lại để sản xuất những chiếc xe đầu tiên và thành lập nên hãng Ferrari S.p.A. vào năm 1947.

Mẫu xe đầu tiên được sản xuất vào năm 1947 của Ferrari là 125 S, được lắp động cơ V12, dung tích 1.5L. Ông bất đắc dĩ lắm mới sản xuất và bán những chiếc xe này vì để lấy tiền tài trợ cho đội đua Scuderia Ferrari.



Ferrari 125 S cũng chỉ được sản xuất với số lượng 2 chiếc




Ferrari 125 S được lắp động cơ V12, nghiêng góc 60°, dung tích 1.5L cho công suất 118 mã lực.



Kính chắn gió đơn cổ điển
Cuộc đua đầu tiên được diễn ra ở Turin vào năm 1948, Ferrara đã giành chiến thắng ở giải đua Lago di Garda vào cuối năm đó. Ferrari tham gia vào giải đua Công thức 1 kể từ khi nó được ra mắt vào năm 1950. Ông đã giành chiến thắng lần đầu tiên tại Grand Prix cùng với tay đua José Froilán González ở Silverstone vào năm 1951. Chức vô địch lần đầu tiên của ông được lập năm 1952-1953 cùng với tay đua Alberto Ascari. Công ty cũng sản xuất và bán những chiếc xe thể thao theo đơn đăt hàng để lấy nguồn vốn đầu tư cho các giải đua không chỉ ở Grands Prix mà ở các giải đua khác như Mille Miglia và Le Mans.

Ferrari quyết định tiếp tục đua ở giải Mille Miglia và đội đua đã giành được những thắng lợi mới. Công chúng biết tới những chiếc xe mang thương hiệu Ferrari ngày càng đông đảo hơn. Tuy nhiên, các xe đua với tốc độ ngày càng tăng còn chất lượng đường đua không tốt đã làm nên thảm họa cho đội đua Ferrari và cả giải đua. Năm 1957 tại Mille Miglia, gần thị trấn Guidizzolo, chiếc Ferrari 335 S dung tích 4.0L được điều khiển bởi tay đua Alfonso de Portago. Khi đang ở vị trí thứ 3, đồng hồ tốc độ chỉ 250 km/h thì chiếc xe bị nổ lốp và đâm vào đám đông đang cổ vũ bên đường.


Ferrari 335 S cũng chỉ được xuất xưởng với số lượng 4 chiếc

Kết quả, tay đua Alfonso de Portago, phụ lái và cùng với 9 khán giả, trong đó có 5 trẻ em đã chết trong tai nạn. Sau đó, Enzo Ferrari và Englebert; nhà sản xuất lốp xe bị khởi tố và bị buộc tội ngộ sát, vụ việc kéo dài đến năm 1961 và cuối cùng đã được bát bỏ.



Ferrari 335 S được lắp động cơ V12 với dung tích 4.023cc cho công đến 390 mã lực tại 7.400 vòng/phút. Tốc độ tối đa khoảng 300 km/h, con số 300 thì trở nên quá mạnh mẽ trong thời kỳ này.


Hốc gió được thiết kế rất đặc biệt trên Ferrari 335 S, để tăng lượng gió làm mát cho khoang động cơ



Chiếc Ferrari 335 S sau đó đã giành chiến thắng tại Venezuelan Grand Prix, được điều khiển bởi tay đua Peter Collins và Phil Hill


Động cơ V12, dung tích 4.0 của Ferrari 335 S đời 1957
Ngoài giải đua Công thức 1, Ferrari cũng tham gia vào phân khúc đua xe thể thao, hai dự án cho 2 giải đua cùng tồn tại song song trong nhiều năm. Đội đua Scuderia Ferrari đã giành chiến thắng tại đường đua Công thức 1 những năm 1950 và 1960. Các tay đua đã lập công là Juan Manuel Fangio (1956), Mike Hawthorn (1958), Phil Hill (1961) và John Surtees (1964).

Năm 1949, Luigi Chinetti và Lord Selsdon lái chiếc 166 MM đã giành chiến thắng đầu tiên cho đội Ferrari ở giải đua 24 Hours of Le Mans với quảng đường 3.178 km và đạt tốc độ trung bình là 132 km/h. Ferrari tiếp tục thống trị đường đua những năm đầu của giải vô địch thế giới phân khúc xe thể thao được ra mắt vào năm 1953. Ferrari đã giành danh hiệu này 7 lần trong 9 năm đầu tiên của giải đua.


Tay đua Luigi Chinetti (trong xe) và Lord Selsdon chiến thắng tại giải đua 24 Hours of Le Mans năm 1949 với chiếc Ferrari 166 MM


Mẫu Ferrari 166 Mille Miglia (MM) được nâng cấp từ Ferrari 166 S


Logo và chữ Superleggera của hãng đóng khung xe Carrozzeria Touring.
“Superleggera” có nghĩa là “siêu nhẹ”, là một công nghệ đóng khung xe với cấu trúc siêu nhẹ được phát triển bởi Felice Bianchi Anderloni, người Ý. Ông cũng là người thành lập hãng đóng khung xe Carrozzeria Touring cùng với Gaetano Ponzoni vào ngày 25.03.1926 tại Milan, Ý.


Cấu trúc khung dạng ống Superleggera với ưu điểm là trọng lượng nhẹ và dễ uốn nắn

Cấu trúc Superleggera bao gồm các khung xe dạng ống với đường kính nhỏ và được bao bọc bên ngoài bởi tấm hợp kim giúp cho khung xe thêm vững chắc. Ngoài việc làm giảm trong lượng xe, cấu trúc Superleggera còn giúp cho việc thiết kế, gia công và sản xuất dễ dàng hơn.

Ngày nay, cấu trúc Superleggera không còn được sử dụng trong sản xuất xe với lượng lớn vì với cấu trúc Superleggera không thể đáp ứng tiêu chuẩn chống va đập hiện đại. Chi phí để sản xuất hàng loạt và chi phí chống ăn mòn giữa các mối nối của tấm thân xe và khung ống thép cũng không cho phép. Ngoài ra, các ống khung được sử dụng trong cấu trúc của Superleggera quá nhỏ và vật liệu của nó không phù hợp để liên kết với các thành phần của hệ thống treo…


Khung Ferrari LaFerrari (F70) với cấu trúc Monocoque


Khung xe với cấu trúc Monocoque đang được sự dụng rộng rải trên các siêu xe ngày nay vì nó chịu được các lực va đập lớn. Cấu trúc Monocoque tương tự như cấu trúc chịu lực ở 2 đầu của quả trứng nên có độ an toàn rất cao.



Ferrari 166 MM được trang bị động cơ V12, SOHC, dung tích 2.0L cho công suất 140 mã lực tại vòng tua máy 6.000 vòng/phút. Tốc độ tối đa khoảng 220 km/h. Hộp số tay 5 cấp




Ferrari 166 MM có bảng điều khiển thiết kế đơn sơ và nội thất rất gọn





Động cơ V12 với dung tích 2.0L của Ferrari 166 MM

Khi điều lệ về chức vô địch thay đổi năm 1962, Ferrari giành được ít nhất một danh hiệu vào mỗi năm cho đến năm 1965 và sau đó một lần nữa vào năm 1967. Ferrari giành được danh hiệu vô địch thế giới lần cuối cùng vào năm 1972 bởi tay đua Makes, trước khi quyết định rời khỏi phân khúc đua xe thể thao sau năm 1973 và cho phép đội đua Scuderia Ferrari tập trung hoàn toàn vào giải đua Công thức 1.Động cơ V12 với dung tích 2.0L của Ferrari 166 MM

Mặc dù Ferrari không còn tham gia vào giải đua xe thể thao sau năm 1973 nhưng hãng cũng phát triển thành công nhiều mẫu xe thể thao cho các tay đua cá nhân. Gồm các mẫu nổi tiếng như; Ferrari 512 BB LM trong những năm 1970, Ferrari 333 SP giành dược chức Vô địch IMSA GT những năm 1990 và hiện tại là Ferrari F430 GT2 và GT3 đang giành chức vô địch ở phân hạng của nó.

Năm 1969, khó khăn trong việc phân hạng các giải đua, cũng như các vấn đề về tiêu chuẩn khí thải, quy định mới về độ an toàn trong việc phát triển và sản xuất xe nên Enzo Ferrari đã bán 50% cổ phần công ty cho FIAT nhưng ông vẫn nắm quyền điều hành 100% trong các hoạt động đua xe. FIAT sẽ trả cho ông một khoản tiền trợ cấp khá lớn cho đến khi ông qua đời nếu được quyền sử dụng nhà máy sản xuất ở Maranello và Modena. Ferrari trước đó đã tạo cho Ford cơ hội để mua Ferrari vào năm 1963 với giá 18 triệu USD nhưng cuộc đàm phán đã diễn ra quá muộn…

Enzo Ferrari đã rời khỏi đội đua khi ông nhận ra rằng không thể duy trì đội đua độc lập với hoạt động của công ty. Enzo Ferrari đã trở thành một cổ đông. Năm 1988, cổ phần của FIAT đã tăng lên 90%.

Năm 1971, Ferrari đã thôi chức giám đốc điều hành bộ phận sản xuất xe ở công ty. Vào năm 1974, Ferrari đề cử Luca Cordero di Montezemolo làm quản lý đội đua Công thức 1 (hiện tại Montezemolo đang là chủ tịch của hãng Ferrari S.p.A.). Tay đua Niki Lauda đã giành chức vô địch trong năm 1975 và 1977. Sau những thành công và danh hiệu đạt được từ thành tích của tay đua Jody Scheckter vào năm 1979, thì hy vọng một lần được vô địch ở giải Công thức 1 của đội đua Ferrari đã trở nên tuyệt vọng và ảm đạm hơn bao giờ hết.

Năm 1982, mở ra một tương lai tương sáng hơn với chiếc 126 C2 đầy mạnh mẽ, trang bị động cơ V6 tăng áp, phun nhiên liệu trực tiếp, dung tích 1.5L cho công suất 580 mã lực ở 11.000 vòng/phút, truyền động qua hộp số tay 6 cấp. Mẫu 126 C2 này cũng đã được nâng cấp toàn bộ từ cấu trúc khung gầm, đến bộ tăng áp dựa trên kinh nghiệm từ các phiên bản trước và quan trọng hơn nó còn được điều khiển bởi tay đua đẳng cấp thế giới; Gilles Villeneuve (lái chính) và Didier Pironi (lái phụ).

Mọi thứ đã được chuẩn bị hoàn tất để chờ đợi kết quả đầy hứa hẹn trong các cuộc đua sắp tới. Tuy nhiên, chuyện không may đã xảy ra với đội đua Ferrari, tay đua Villeneuve đã chết trong một tai nạn khủng khiếp ở vòng loại tiếp theo tại Bỉ.



Ferrari 126 C2 đầy mạnh mẽ với động cơ V6 tăng áp, dung tích 1.5L cho công suất 580 mã lực. Trọng lượng chỉ 595 kg




Chiếc Ferrari 126 C2 đã gặp nạn khi vừa vào cua, sau đó tay đua Villeneuve bị hắt văng vào rào chắn bên đường


Enzo Ferrari và tay đua Gilles Villeneuve (18.01.1950 – 08.05.1982)

Sau đó, Pironi trở thành tay lái chính và cũng suýt chết trong một tai nạn tương tự trên đường đua ở Đức. Pironi đã được cứu sống sau tai nạn nhưng bị chấn thương ở cả hai chân và ông không bao giờ trở lại thi đấu với giải Công thức 1 được nữa. Tai nạn đó đã làm chấm dứt sự nghiệp đua xe của Didier Pironi.


Tay đua Didier Pironi (26.03.1952 – 23.08.1987)

Năm 1986, đôi chân ông bắt đầu đi được mà không cần sự trợ giúp. Không thể trở lại giải đua F1, Pironi quyết định chuyển sang đua xuồng. Vào ngày 23.08.1987, Pironi đã bị chết trong một tai nạn đua xuồng ở Needles Trophy Race gần Isle of Wight. Một vài tuần sau khi Pironi mất, bạn gái của anh; Catherine Goux đã sinh đôi và cô đặt tên cho 2 đứa con của mình là Didier và Gilles, để nhớ đến bạn trai cô và tay đua Gilles Villeneuve.

Enzo Ferrari vẫn sát cánh cùng đội đua Scuderia Ferrari cho đến khi ông mất vào năm 1988.

Cuộc đời Enzo Ferrari và mẫu xe huyền thoại mang tên ông

Cha của Enzo Ferrari là Alfredo Ferrari, ông kết hôn với bà Adalgisa Bisbini và có 2 người con trai. Người con trai đầu tiên là Alfredo Ferrari (trùng với tên cha) được sinh vào năm 1896. Hai năm sau Enzo Ferrari ra đời, trên giấy khai sinh của ông để ông sinh ngày 20.02.1898 nhưng trên thực tế ông được sinh vào ngày 18.02. Vì ngày ông chào đời trùng hợp với sự xuất hiện của một cơn bão tuyết rất lớn nên cha ông không thể đến cơ quan đăng ký đúng ngày ông sinh và phải chờ cho đến 2 ngày sau đó.


Enzo Ferrari tại văn phòng làm việc
Enzo Ferrari lớn lên và kết hôn với Laura Dominica Garello (1900-1978). Từ năm 1932 cho đến khi vợ ông mất, ông có một người con trai tên là Alfredo Ferrari (biệt danh là Alfredo “Dino”) sinh vào năm 1932 và được xem như là người kế nhiệm ông sau này nhưng con trai ông mắc bệnh và chết vì bị teo cơ vào năm 1956.

Enzo Ferrari có người con trai thứ hai, tên là Piero Ferrari sinh năm 1945 nhưng với tình nhân của ông; Lina Lardi. Vì ly hôn là bất hợp pháp ở Ý cho đến năm 1975 nên Piero chỉ được công nhận là con trai của Enzo sau khi vợ ông mất vào năm 1978. Piero Ferrari hiện là phó chủ tịch của Ferrari và ông đang nắm giữ 10% cổ phần còn lại.

Enzo Ferrari mất vào ngày 14.08.1988 tại Maranello ở tuổi 90. Trước khi qua đời, ông đã được chứng kiến sự​​ ra mắt của mẫu Ferrari F40, một trong những siêu xe nổi tiếng nhất của Ferrari thời điểm đó. Ông là người đã phê duyệt cho F40 đi vào sản xuất.



Ferrari F40 được sản xuất từ năm 1987-1992 với số lượng 1.315 chiếc, nó là mẫu thừa kế của Ferrari 288 GTO. Ferrari F40 được bán với giá 400.000 USD vào năm 1987. Nếu bạn muốn tìm mua 1 chiếc F40 thì giá hiện nay của nó cao gấp 2 lần trở lên.



F40 được lắp động cơ V8 tăng áp, dung tích 2.9L cho công suất 471 mã lực tại 7.000 vòng/phút. Tăng tốc 0-100 km/h chỉ 3.8 giây và 0-200 chỉ 11 giây. Tốc độ tối đa 325 km/h

F40 là mẫu xe đầu tiên được sản xuất hợp pháp với tốc độ kỷ lục 325km/h từ năm 1987-1989. Các đối thủ cạnh tranh của F40 là Porsche 959 và Lamborghini Countach 1988




Động cơ V8 tăng áp, dung tích 2.9L cho công suất 471 mã lực cũa Ferrari F40

Từ năm 2002-2004, Ferrari tập trung sản xuất mẫu Enzo, siêu xe nhanh nhất của Ferrari trong thời gian này.


Huyền thoại Enzo Ferrari được sản xuất từ năm 2002-2004, với số lượng 400 chiếc

Enzo Ferrari được đặt theo tên của nhà sáng lập hãng Ferrari; ông Enzo Ferrari (Mặc dù nó được gọi là F60, thế hệ tiếp theo của F40 và F50 nhưng Ferrari cảm thấy rất hài lòng và họ đã đồng ý đặt cho nó với tên mới là Enzo Ferrari).



Lịch sử logo của hãng

Logo nổi tiếng của Ferrari với hình “ngựa chồm” màu đen trên nền lá chắn màu vàng, cùng với 3 sọc màu; xanh lá, trắng và đỏ tượng trưng cho màu cờ của nước Ý. Phía dưới có 2 chữ cái SF (viết tắt của Scuderia Ferrari).


Logo Ferrari được gắn trên nắp ca-pô

Logo Ferrari với hình chữ nhật được gắn trên nắp ca-pô, còn logo có hình tấm khiêng được gắn ở 2 bên gần cửa trước của xe.


Logo gắn ở vị trí gần cửa xe được Ferrari cho vào mục tùy chọn của khách hàng

Nguồn gốc biểu tượng “ngựa chồm” của Ferrari

Ngày 17.06.1923, Enzo Ferrari thắng chặng đua Savio ở Ravenna và tại đây ông đã gặp nữ Bá tước Paolina, mẹ của Francesco Baracca. Francesco Baracca là một phi công xuất sắc của lực lượng không quân Ý và là vị anh hùng dân tộc của Thế chiến thứ nhất. Baracca đã sơn hình “ngựa chồm” (prancing horse) bên hông chiến đấu cơ của mình nên Bá tước đã đề nghị Enzo Ferrari sử dụng biểu tượng chú ngựa này trên xe của ông và nói rằng nó sẽ mang lại cho ông nhiều may mắn.


Francesco Baracca (09.05.1888 – 19.06.1918) bên chiến đấu cơ và biểu tượng “prancing horse”

Bản gốc “ngựa chồm” trên máy bay của Baracca được sơn màu đỏ trên nền hình đám mây màu trắng, nhưng Ferrari đã chọn để con ngựa có màu đen (như dấu hiệu để nhớ đến Francesco Baracca đã hy sinh trong khi chiến đấu) và ông thêm nền là màu vàng hoàng yến vì đây là màu sắc của thành phố Modena, quê hương của ông.

Biểu tượng “ngựa chồm” của Ferrari đã được sửa đổi lại nên các chi tiết gần như khác biệt so với con ngựa được sơn trên máy bay của Baracca. Đáng chú ý nhất là phần đuôi; trong biểu tượng của Baracca con ngựa có phần đuôi hướng xuống phía dưới. Vào ngày 09.07.1932 tại giải đua Spa 24 Hours thì biểu tượng “Cavallino Rampante” mới được Alfa Romeos sử dụng trên những mẫu xe đua của đội Scuderia Ferrari. Từ “Prancing Horse” trong tiếng Ý là “Cavallino Rampante”.

Nhìn ra bên ngoài, biểu tượng “prancing horse” cũng được tìm thấy trong các đồng tiền cổ, trên huy hiệu của thành phố Stuttgart ở Đức. Hãng Porches cũng sử dụng biểu tượng “prancing horse” của thành phố Stuttgart cho logo của hãng.


Huy hiệu của thành phố Stuttgart, Đức. Biểu tượng trong logo của hãng Porsche

Fabio Taglioni là Giám đốc kỹ thuật và là thiết kế trưởng của thương hiệu mô tô nổi tiếng Ducatti, ông cũng sử dụng biểu tượng “ngựa chồm” trên các mẫu mô tô của hãng. Fabio Taglioni cũng sinh ra tại Lugo di Romagna, cùng quê với Francesco Baracca. Cha của Fabio Taglioni cũng là phi công trong chiến tranh Thế giới thứ nhất (được cho là không cùng phi đội với Francesco Baracca).


Biểu tượng “prancing horse” trên chiếc Ducati 125 GS 1956

Vì danh tiếng của thương hiệu Ferrari và sự thỏa thuận giữa 2 hãng nên ngày nay Ducati đã không còn sử dụng biểu tượng này nữa.

“Cavallino rampante” đã trở thành biểu tượng và hình ảnh của hãng Ferrari nhưng ngoài Ferrari thì một số công ty ngày nay vẫn còn sử dụng biểu tượng “ngựa chồm” tương tự như hãng Ferrari như; Công ty xăng dầu Avanti của Áo với hơn 100 trạm, hãng sản xuất xe đạp Iron Horse và công ty đường sắt Norfolk Southern đều ở Mỹ…


Một trạm xăng của công ty xăng dầu Avanti ở Áo

Những mẫu xe hiện tại của Ferrari
California (2008)458 Italia (2009)FF (2011)

  • Grand tourer
  • Động cơ V8
  • Convertible 
  • Sports car
  • Động cơ V8, đặt giữa 
  • Grand tourer
  • 4WD shooting-brake
  • Động cơ V12

458 Spider (2011)F12 Berlinetta (2012)LaFerrari (2013)

  • Sports Car
  • Động cơ V8, đặt giữa
  • Convertible 
  • Grand tourer
  • Động cơ V12 
  • Supercar
  • Động cơ V12 + KERS



Bảng tóm tắt các thông tin về hãng Ferrari S.p.A.

Loại hình công ty Công ty cổ phần
Ngành công nghiệp Ô tô
Thành lập 1947 (tiền nhiệm 1929)
Nhà sáng lập Enzo Ferrari
Trụ sở chính Maranello, Italy
Thành viên chủ chốt Luca di Montezemolo (Chủ tịch)Piero Ferrari (Phó chủ tịch)



Amedeo Felisa (CEO)
Số lượng sản xuất 7.044 chiếc, thống kê năm 2011
Chủ sở hữu Fiat S.p.A. (90%)
Piero Ferrari (10%)
Công ty mẹ Fiat S.p.A.
Trang chủ Ferrari.com


....Mời quý vị đón đọc kỳ 2 về "ngựa chồm" đang làm đình đám bao tín đồ mê tốc độ trên thế giới....

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Được tạo bởi Blogger.

nhiều người đọc